Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2. Nhân vật trữ tình tưởng tượng được nghe hát quan họ, nhớ mùa vải thiều khi hồi tưởng lại chặng đường lịch sử của dân tộc.
Câu 3. Câu thơ "Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long" sử dụng biện phép nhân hóa và hoán dụ. "Trời Nam" hay "đất Thăng Long" thực chất là để chỉ những con người sống ở 2 miền của Tổ quốc. Phép nhân hóa qua từ "thương nhớ" đã cho thấy tình cảm đẹp của nhân dân 2 miền.
Câu 4. Tình cảm của nhân vật trữ tình với quê hương, xứ sở: đó là nỗi niềm xa xứ, nỗi niềm của người con đất Việt đang hoài niệm về cả chặng đường lịch sử của dân tộc. Đó là thứ tình cảm gần gũi, sâu sắc, thật đáng trân trọng.
(4 câu đầu)
- Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước: hành động đi đi lại lại -> bước chân chậm chạp, trĩu nặng nỗi niềm chán ngán, chán trường của chinh phụ.
Bước chân này rất khác bước chân hăm hở Thúy Kiều:
- Săm săm đè nẻo Lam Kiều lần sang
- Săm săm băng lối vườn khuya một mình
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
- “Ngồi rèm thưa””: Hết đứng lên lại ngồi xuống. -> Sự thấp thỏm và bất an, bồn chồn.
- “Rủ thác đòi phen”: hết buông ràm xuống lại cuốn rèm lên -> bồn chồn, hành động lặp đi lặp lại trong vô thức.
- “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”: Hết ngóng ra ngoài bức rèm để mong chờ tin tức tốt lành rồi lại: “Trong đèn dường đã có đèn biết chăng” thẫn thờ quay vào đối diện với ngọn đèn đơn độc. Chỉ có ngọn đèn là người bạn đồng hành duy nhất với người chinh phụ.
-> Những hành động này lặp đi lặp lại trong vô thức buồn chán, tẻ nhạt.
-> Trông mong đến khắc khoải, triền miên trong vô vọng.
-> Lo lắng, bất an, bồn chồn, mỏi mệt.
2. Thể hiện qua cách cảm nhận ngoại cảnh (8 câu tiếp theo)
* Ngọn đèn:
- Ngọn đèn được sử dụng nhiều để nói về nỗi nhớ mong, thao thức. Đây là hình ảnh quen thuộc, không còn xa lạ gì với văn học mỗi khi nhân vật cần bộc lộ tâm trạng, gửi gắm nỗi niềm:
+ Ca dao: Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
=> Nỗi nhớ người yêu.
+ Chuyện người con gái Nam Xương: người vợ nhớ chồng nên chỉ bóng người trên tường, nói với con mình đó là bố nó. Bóng người trên tường là sự phản chiếu của ngọn đèn. -> Ngọn đèn diễn tả nỗi nhớ thương.
-> Ngọn đèn xuất hiện tự nhiên, không phải là hình ảnh mới mẻ. Nhớ thương không ngủ được nên thắp đèn -> thức cùng ngọn đèn
-> Ngọn đèn vô tri vô giác nhưng là người bạn duy nhất để người chinh phụ chia sẻ nỗi lòng “bi thiết” và “buồn rầu” của mình.
-> Vì vô tri vô giác nên chinh phụ rất đau khổ nhận ra rằng “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”. Vô tri vô giác nên không thể nào vỗ về, an ủi.
=> Càng thấm thía nỗi cô đơn cùng cực của chinh phụ.
=> Ngọn đèn song hành, đồng hành nhưng không thể chia sẻ được nên vẫn là hai thực thể tách rời. Không thể nào đồng cảm và sẻ chia tâm tư tình cảm với chinh phụ được.
- Nhắc đến hình ảnh “hoa đèn kia với bóng người khá thương”: hoa đèn soi bóng người cô đơn, tội nghiệp.
Hoa đèn: đầu bấc đèn dầu đã cháy thành than nhưng lại được ngọn lửa nung đỏ lên trông như hoa. -> tàn kết lại đầu sợi bấc đèn cháy đỏ như cái hoa đèn
-> Trong số hàng trăm nghìn loài hoa đều khoe hương sắc thì có một loài hoa rất tội nghiệp. Đó là hoa đèn. Hoa đèn là dấu hiệu của dầu hao, bấc hỏng. Hoa đèn cho thấy ngọn bấc đã sử dụng nhiều, đến hao mòn.
-> chinh phụ đã thao thức rất lâu, từ đêm này sang đêm khác, triền miên và khắc khoải.
1. Thể thơ song thất lục bát.
Phương thức biểu đạt: biểu cảm.
2. Hành động, việc làm: cuốn rèm lên, kéo rèm xuống, dạo từng bước, đối diện với ngọn đèn.
-> Tâm trạng bất an, lo lắng, rối bời.
3. Yếu tố ngoại cảnh: rèm, chim thước, ngọn đèn.
-> Tâm trạng người chinh phụ