Một loài thực vật, alen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với alen a quy định thân thấp; alen B quy định hoa đỏ trội không hoàn toàn so với alen b quy định hoa trắng, kiểu gen Bb quy định hoa hồng; hai cặp gen này phân li độc lập. Cho cây thân cao, hoa trắng giao phấn với cây thân thấp, hoa đỏ (P), thu được F1, gồm 100% cây thân cao, ho hồng. Cho F1 tự thụ phấn thu được F2. Biết rằng không sảy ra đột biến. Theo lý thuyết, phát biểu nào sau đây sai:A. Lấy ngẫu nhiên 1 cây thân cao, hoa đỏ F2, xác suất lấy được cây thuần chủng là 1/9, B. F2 có 6,25% số cây thân thấp, hoa trắng, C. F2 có 9 loại kiểu gen và 6 loại kiểu hình, D. F2 có 18,75% số cây thân cao, hoa đỏ
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Bạch tạng là một bệnh di truyền do gene lặn. Để xác định kiểu gene của các thành viên trong gia đình như tình huống bạn mô tả:
- Người vợ: Vì mắc bệnh bạch tạng, cô ấy có kiểu gene aa (homozygous lặn).
- Người chồng: Không mắc bệnh, nhưng có thể truyền gene lặn. Vì con của họ có người bị bệnh bạch tạng, người chồng phải có kiểu gene Aa (heterozygous mang gene lặn).
- Người con: Nếu bị bệnh bạch tạng, người con sẽ có kiểu gene aa.
Điều này giải thích tại sao bệnh bạch tạng lại xuất hiện trong gia đình này. Người chồng mang gene lặn (Aa) kết hợp với người vợ (aa) có thể tạo ra con có kiểu gene aa, dẫn đến bệnh bạch tạng.

Yếu tố ảnh hưởng đến sự phân hóa giới tính:
- Yếu tố di truyền:
- Nhiễm sắc thể giới tính: Sự kết hợp của các nhiễm sắc thể giới tính (như XY ở người) quyết định giới tính của cá thể.
- Gen xác định giới tính: Các gen như SRY trên nhiễm sắc thể Y đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt quá trình phát triển giới tính nam.
- Yếu tố môi trường:
- Nhiệt độ: Ở một số loài, nhiệt độ trong giai đoạn phát triển phôi có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ giới tính. Ví dụ, nghiên cứu trên tôm sú cho thấy nhiệt độ có thể điều chỉnh tỷ lệ giới tính trong quần thể.
- Yếu tố xã hội và mật độ quần thể: Trong một số loài, tỷ lệ giới tính có thể bị ảnh hưởng bởi mật độ cá thể và cấu trúc xã hội.
Ứng dụng của việc hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân hóa giới tính trong sản xuất:
- Nuôi trồng thủy sản:
- Quản lý tỷ lệ giới tính: Hiểu biết về ảnh hưởng của nhiệt độ và các yếu tố môi trường khác giúp người nuôi điều chỉnh điều kiện nuôi để đạt được tỷ lệ giới tính mong muốn, từ đó tối ưu hóa sản lượng và chất lượng sản phẩm.
- Chăn nuôi gia cầm:
- Quản lý dinh dưỡng và môi trường: Cung cấp chế độ dinh dưỡng cân đối và điều chỉnh môi trường nuôi (như ánh sáng, nhiệt độ) có thể ảnh hưởng đến năng suất sinh sản và chất lượng trứng.
- Nghiên cứu và phát triển giống:
- Tạo giống mới: Hiểu biết về cơ chế phân hóa giới tính giúp trong việc phát triển các giống vật nuôi có đặc tính sinh sản ưu việt, đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng hiệu quả sản xuất.
Tổng kết, việc nắm bắt các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân hóa giới tính không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sinh học cơ bản mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm.

Phân tích phép lai 1
P1: Thân cao, hoa trắng (AA bb) x Thân thấp, hoa đỏ (aa BB)
- Kiểu gen của P1: Thân cao (AA), hoa trắng (bb) với thân thấp (aa), hoa đỏ (BB).
- Các giao tử của P1:
- Thân cao, hoa trắng (AA bb) có giao tử Ab.
- Thân thấp, hoa đỏ (aa BB) có giao tử aB.
F1 sẽ có kiểu gen:
- Tất cả các cây F1 sẽ có kiểu gen **Aa Bb** (Thân cao, hoa đỏ).
- Tuy nhiên, trong F1, theo tỷ lệ bạn đưa ra, cây có kiểu hình thân thấp, hoa trắng chiếm tỉ lệ 25%. Điều này có thể do các cây F1 phát sinh từ sự phân ly của alen trong các thế hệ tiếp theo.
Phân tích phép lai 2
P2: Thân cao, hoa đỏ (Aa Bb) x Thân cao, hoa trắng (AA bb)
- Kiểu gen của P2: Một cây có kiểu gen **Aa Bb** (thân cao, hoa đỏ), cây còn lại có kiểu gen **AA bb** (thân cao, hoa trắng).
- Cây F1 có thể có các kiểu gen sau:
- **Aa Bb**: Thân cao, hoa đỏ.
- **Aa bb**: Thân cao, hoa trắng.
- **AA Bb**: Thân cao, hoa đỏ.
- **AA bb**: Thân cao, hoa trắng.
Theo lý thuyết, tỉ lệ kiểu hình trong F1 sẽ là:
- Thân cao, hoa đỏ: 50%
- Thân cao, hoa trắng: 50%.
Tuy nhiên, cây có kiểu hình thân thấp, hoa đỏ chiếm tỷ lệ 12,5%. Điều này cho thấy có thể có sự phân ly của các alen trong quá trình tái tổ hợp của các kiểu gen này.
Câu b) Tính tỷ lệ kiểu hình thân cao, hoa trắng trong F2
Khi thụ phấn giữa các cây thân cao hoa đỏ của F1 từ phép lai 1 và các cây thân cao hoa đỏ của phép lai 2, ta sẽ có sự phân ly kiểu hình trong F2.
- Theo lý thuyết, trong F2, cây thân cao hoa trắng chiếm tỷ lệ khoảng 25%.
Câu c) Xác suất có hai cây thân cao hoa đỏ trong 5 cây con
Khi lấy ngẫu nhiên 6 cây con từ phép lai 2, xác suất để có hai cây có kiểu hình thân cao hoa đỏ có thể tính theo phân phối nhị thức. Với tỷ lệ kiểu hình thân cao hoa đỏ trong F1 là 50%, ta có công thức xác suất nhị thức:
P(X = 2) = C(5, 2) * (0.5)^2 * (0.5)^3
P(X = 2) = 10 * 0.25 * 0.125
P(X = 2) = 0.3125
Vậy xác suất trong 5 cây này có hai cây thân cao hoa đỏ là 0.3125 hoặc 31.25%.

Nhận định 1: Sinh sản của cây thuốc bỏng là nhờ cơ chế nguyên phân, giảm phân và thụ tinh
Sai. Cây thuốc bỏng sinh sản chủ yếu bằng hình thức sinh sản vô tính (sinh sản sinh dưỡng) thông qua lá.
Nguyên phân: Đúng là có xảy ra trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây thuốc bỏng, giúp tăng số lượng tế bào.
Giảm phân và thụ tinh: Không xảy ra trong sinh sản vô tính của cây thuốc bỏng.
Nhận định 2: Sự tổng hợp năng lượng ở vi khuẩn xảy ra trong ti thể
Sai. Vi khuẩn là sinh vật nhân sơ, không có các bào quan có màng bao bọc như ti thể. Quá trình tổng hợp năng lượng ở vi khuẩn diễn ra ở màng tế bào chất.
Nhận định 3: Ở cây bưởi từ khi hạt nảy mầm đến khi cây trưởng thành chuẩn bị ra hoa là nhờ 3 cơ chế nguyên phân, giảm phân, thụ tinh
Đúng.
Nguyên phân: Xảy ra liên tục trong quá trình sinh trưởng của cây bưởi, giúp tăng số lượng tế bào và kích thước của cây.
Giảm phân: Xảy ra trong quá trình hình thành giao tử (noãn và hạt phấn) ở hoa bưởi.
Thụ tinh: Diễn ra khi hạt phấn thụ tinh với noãn, tạo thành hợp tử, từ đó phát triển thành phôi và sau này thành cây bưởi trưởng thành.
Nhận định 1 Sai. Cây thuốc bỏng sinh sản chủ yếu bằng hình thức sinh sản vô tính hay sinh sản sinh dưỡng thông qua lá.
Nhận định 2 Sai. Vi khuẩn là sinh vật nhân sơ, không có các bào quan có màng bao bọc như ti thể. Quá trình tổng hợp năng lượng ở vi khuẩn diễn ra ở tế bào chất.
Nhận định 3 Đúng. Nguyên phân: Xảy ra liên tục trong quá trình sinh trưởng của cây bưởi, giúp tăng số lượng tế bào và kích thước của cây.
Giảm phân: Xảy ra trong quá trình hình thành giao tử (noãn và hạt phấn) ở hoa bưởi.
Thụ tinh: Diễn ra khi hạt phấn thụ tinh với noãn, tạo thành hợp tử, từ đó phát triển thành phôi và sau này thành cây bưởi trưởng thành.
Vậy trong 3 nhận định trên nhận định 1, 2 sai, nhận định 3 đúng