

Nguyễn Thanh Hiền
Giới thiệu về bản thân



































a. Thế năng của vật ở độ cao ban đầu: W t = m g H = 20 W t =mgH=20 J Áp dụng công thức về chuyển động rơi tự do, ta có vận tốc của vật ngay trước khi chạm đất là: v = 2 g H v= 2gH Động năng của vật khi đó: W đ = 1 2 m v 2 = m g H = 20 W đ = 2 1 mv 2 =mgH=20 J Ta thấy động năng của vật lúc sắp chạm đất bằng thế năng ban đầu. b. Kí hiệu h là độ cao mà tại đó động năng của vật bằng thế năng. Ta có: m g h = 1 2 m v 2 mgh= 2 1 mv 2 (1) Mặt khác theo công thức rơi tự do: v = 2 h ( H − h ) v= 2h(H−h) (2) Thay (2) vào (1) ta tìm được: h = H 2 = 10 h= 2 H =10 m
a. Khi thang máy lên đều lực kéo của động cơ cân bằng với trọng lực: F k = P = m g = 12000 F k =P=mg=12000 N Công suất của động cơ: P = F k . v = 4000 P=F k .v=4000 W b. Áp dụng định luật 2 Newton ta có: a = F k − m . g m ⇒ F k = m ( g + a ) = 12600 a= m F k −m.g ⇒F k =m(g+a)=12600 N Thời gian thang đi quãng đường 10 m từ lúc xuất phát: s = a t 2 2 ⇒ t = 2 s a = 5 s= 2 at 2 ⇒t= a 2s =5 s Công suất trung bình của động cơ: P = F k . v t b = F k . s t = 25200 P=F k .v tb =F k . t s =25200 W
Áp dụng định luật 2 Newton cho chuyển động của vật theo hai trục Ox, Oy ta được: { F x = P x − F m s = m g s i n α − F m s = m a F y = N − P y = N − m g c o s α = 0 { F x =P x −F ms =mgsinα−F ms =ma F y =N−P y =N−mgcosα=0 ⇒ F m s = m g s i n α − m a ⇒F ms =mgsinα−ma Ta có: v 2 − v 0 2 = 2 a s ⇒ a = v 2 − v 0 2 2 s = 6 2 − 2 2 2.8 = 2 v 2 −v 0 2 =2as⇒a= 2s v 2 −v 0 2 = 2.8 6 2 −2 2 =2 m/s2 a. Công của trọng lực: A P = P s i n α . s = m g s i n α . s = 1 , 5.10. s i n 3 0 o . 8 = 60 A P =Psinα.s=mgsinα.s=1,5.10.sin30 o .8=60 J b. Công của lực ma sát: A F m s = − F m s . s = − ( m g s i n α − m a ) . s = − ( 1 , 5.10. s i n 3 0 o − 1 , 5.2 ) . 8 = − 36 A F ms =−F ms .s=−(mgsinα−ma).s=−(1,5.10.sin30 o −1,5.2).8=−36 J
Câu 1: Bài làm: Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hướng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.
Câu 2
Bài làm
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt. Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm. Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũng tới mà người thương đâu chưa thấy, những hoài niệm về niềm hạnh phúc với người vợ, “cuộc sống nghèo vậy mà vui lám”, buồn “tìm hoài không gặp” đi liền với nỗi lo “sợ mắt mình dở rồi nên nhìn không ra cổ”, “tới chết không biết có gặp được không”. “Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại”. Ông vẫn đang mải miết đi hết những đường ngang ngõ dọc để tìm người thương, hay ông chân đã mỏi, gối đã chồn, đã dừng lại ở đâu đó trên hành trình cuộc đời mà vẫn chưa thôi khắc khoải. Trên hành trình tìm kiếm khát khao hạnh phúc đó, con người Nam Bộ trong truyện Biển người mênh mông cho chúng ta thấy tình yêu và sự gắn bó sâu quê hương xứ sở, tình cảm thuỷ chung sâu sắc, tấm lòng yêu thương, vị tha.
Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa nhân vật con người Nam Bộ trong trang văn với tình huống truyện tâm trạng, cốt truyện đơn giản, điểm nhìn di chuyển vào các nhân vật; ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, giàu chất thơ cùng với giọng điệu buồn thương, ngậm ngùi để lại trong lòng người đọc nhìu cảm xúc khó tả. Người đọc cảm nhận về những mảnh đời bé nhỏ, bất hạnh, trôi nổi, lưu lạc, những khát khao kiếm tìm hạnh phúc âm thầm mà mãnh liệt. Hành trình kiếm tìm tình thân, hạnh phúc ấy cũng là hành trình tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn, hành trình của trái tim. Truyện khiến cho mỗi người đọc không nguôi về “nỗi người” trong trang văn của tác giả.
Truyện khơi gợi sự đồng cảm của người đọc, cho độc giả cảm nhận được những giá trị quý giá của tình thân, tình người, của hạnh phúc. Truyện cũng cảnh báo về những hời hợt, thờ ơ của mỗi người có thể đang góp phần làm nên cái “Biển người mênh mông” trong cuộc sống. Qua đó, tác giả đã để lại những ấn tượng sâu sắc về là một người chiến sĩ giàu trách nhiệm, kỷ luật và nặng lòng với quê hương, đất nước. Và rồi, đến cả khi đã gấp lại trang sách cũ, người ta vẫn canh cánh mãi những nỗi niềm rất lạ, rất riêng.
Câu 1 : Kiểu văn bản của ngữ liệu trên là văn bản thông tin. Câu 2 : Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi là: + Người buôn bán trên chợ Nổi nhóm họp bằng xuồng, người đi mua đến chợ bằng xuồng, ghe. + Rao hàng bằng cây bẹo dựng đứng phía trên xuồng nhìn như một cột "ăng - ten" di động. Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc). + Các ghe bán hàng dạo chế ra cách “bẹo” hàng bằng âm thanh lạ tai của những chiếc kèn: Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc). + Những tiếng rao: Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lảnh lót, thiết tha! Câu 3 : Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên là: liệt kê, đưa ra thêm thông tin. Câu 4 : Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên là: Hình ảnh - Tác dụng: Hình minh họa trong văn bản giữ vai trò quan trọng. Nó giúp làm rõ được lời thuyết minh trong văn bản và qua đó, giúp văn bản trở nên hấp dẫn và thuyết phục hơn đối với người đọc. Câu 5 : Suy nghĩ của em về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây là: Chợ nổi đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân miền Tây nói riêng và người dân cả nước nói chung cũng như khách du lịch trên toàn thế giới, nó không chỉ là nơi mua bán hàng hóa mà còn là biểu tượng văn hóa độc đáo của vùng đất này. Chợ nổi không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản về mặt hàng hóa, mà còn là nơi giao lưu, trao đổi văn hóa, kết nối cộng đồng với nhau. Nó thể hiện sự giàu có và đa dạng về nền văn hóa, đồng thời phản ánh tinh thần sáng tạo và lòng tự hào của những người dân miền Tây. Chợ nổi còn là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nghệ sĩ thể hiện trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. Tóm lại, vai trò của chợ nổi trong đời sống người dân miền Tây không chỉ là về kinh tế mà còn cả về văn hóa và xã hội.
Câu 1
Trong cuộc sống đa dạng và phong phú, mỗi con người là một cá thể riêng biệt với lối sống, suy nghĩ, hoàn cảnh và giá trị khác nhau. Việc tôn trọng sự khác biệt của người khác chính là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và nhân ái. Khi ta biết chấp nhận người khác không giống mình, ta sẽ mở rộng tầm nhìn, học hỏi thêm nhiều điều mới mẻ, làm giàu vốn sống cho bản thân. Tôn trọng sự khác biệt cũng giúp giảm bớt xung đột, định kiến và tạo nên môi trường sống hài hòa. Ngược lại, nếu ta áp đặt tư duy của mình lên người khác, coi mình là trung tâm, sẽ dẫn đến phán xét, kỳ thị và cô lập chính bản thân. Mỗi người đều có quyền được sống thật với bản thân, miễn là không làm hại đến ai. Vì vậy, thay vì cố gắng thay đổi người khác theo ý mình, hãy học cách thấu hiểu và đồng cảm. Sự khác biệt là điều làm nên vẻ đẹp của cuộc sống này. Câu 2
Lưu Trọng Lư là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới – dòng thơ lãng mạn, giàu cảm xúc cá nhân và mang dấu ấn cách tân nghệ thuật rõ rệt. Trong số những bài thơ nổi tiếng của ông, “Nắng mới” là một thi phẩm đặc sắc, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ thương mẹ, tình cảm gia đình, và những ký ức tuổi thơ êm đềm qua hình ảnh giản dị mà đầy cảm xúc. Mở đầu bài thơ là những câu thơ nhẹ nhàng, đong đầy nỗi nhớ: “Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời Lúc người còn sống, tôi lên mười; Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội, Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.”
Chỉ trong vài dòng thơ ngắn gọn, Lưu Trọng Lư đã tái hiện cả một vùng trời ký ức tuổi thơ. Hình ảnh “nắng mới reo ngoài nội” gợi không khí trong lành, ấm áp của buổi sáng nơi thôn quê. Ánh nắng ấy gắn liền với hình ảnh người mẹ “đưa áo đỏ trước giậu phơi” – một khung cảnh hết sức bình dị nhưng lại in đậm trong tâm trí của đứa con thơ. Câu thơ không chỉ gợi hình ảnh mà còn gợi cả âm thanh và cảm xúc – ánh nắng như “reo”, mang đến sự sống, đồng thời khơi dậy nỗi nhớ thương. Đoạn thơ tiếp theo tiếp tục thể hiện tâm trạng hồi tưởng của người con: “Hình dáng me tôi chưa xoá mờ Hãy còn mường tượng lúc vào ra: Nét cười đen nhánh sau tay áo Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.”
Cảnh vật vẫn là khoảng sân, chiếc giậu thưa, buổi trưa hè và ánh nắng rực rỡ, nhưng nổi bật lên là dáng mẹ và “nét cười đen nhánh sau tay áo”. Cách miêu tả này vừa cụ thể vừa gợi cảm. “Nét cười đen nhánh” không chỉ là hình ảnh trực quan mà còn là biểu tượng cho sự lam lũ, tảo tần của người mẹ – nụ cười ấy mang theo sự hy sinh âm thầm, là một phần ký ức không thể phai mờ. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ 5 chữ – nhịp nhàng, mềm mại – rất phù hợp để diễn tả tâm trạng hoài niệm. Giọng điệu trầm lắng, tha thiết. Hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu tính biểu cảm và gợi hình. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp hồi tưởng và tương phản giữa hiện tại và quá khứ để làm nổi bật nỗi nhớ và tình cảm sâu đậm dành cho người mẹ đã khuất. “Nắng mới” không chỉ là bài thơ viết về mẹ, mà còn là bản hòa âm giữa thiên nhiên và cảm xúc, giữa hiện thực và ký ức. Bài thơ chạm đến những tầng sâu nhất trong tâm hồn người đọc, bởi ai cũng có một miền ký ức về mẹ, về tuổi thơ. Qua đó, Lưu Trọng Lư đã thể hiện một quan niệm nhân văn về tình mẫu tử: đó là tình cảm vĩnh cửu, không phai nhòa dù năm tháng trôi qua. “Nắng mới” là một thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Lưu Trọng Lư: nhẹ nhàng, trữ tình mà sâu lắng. Bài thơ không chỉ giàu cảm xúc cá nhân mà còn góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của thơ ca Thơ mới về đề tài gia đình, đặc biệt là hình ảnh người mẹ – biểu tượng cho tình yêu thương, sự hy sinh và nỗi nhớ khôn nguôi trong trái tim mỗi con người
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
Câu 2
* Tằn tiện – phung phí * Hào phóng – keo kiệt * Ở nhà – bay nhảy * Hưởng thụ cuộc sống – bỏ bê gia đình
Câu 3.
Vì mỗi người có một hoàn cảnh sống, trải nghiệm và giá trị riêng. Việc phán xét người khác dựa trên góc nhìn hạn hẹp và định kiến cá nhân có thể dẫn đến những hiểu lầm, sai lầm và sự thiếu công bằng. Tác giả muốn nhấn mạnh rằng chúng ta nên thấu hiểu thay vì vội vàng đánh giá.
Câu 4. Tác giả cho rằng điều đáng sợ không phải là có định kiến, mà là khi chúng ta cam chịu sống theo nó mà không phản kháng. Khi để định kiến chi phối, con người mất đi khả năng nhìn nhận khách quan, không còn là chính mình và đánh mất sự tự do tư duy. Đó chính là điều nguy hiểm và tồi tệ nhất.
Câu 5. Thông điệp tôi rút ra là: hãy sống bao dung, biết tôn trọng sự khác biệt và tránh việc đánh giá người khác khi chưa thật sự hiểu họ. Quan trọng hơn, đừng để định kiến chi phối suy nghĩ và hành động của bản thân.
Quả cầu đang lăn trên sườn núi có tốc độ ngày càng tăng vì khi nó giảm độ cao, thế năng của nó chuyển dần thành động năng. Thế năng của quả cầu phụ thuộc vào độ cao so với mốc thế năng. Khi quả cầu lăn xuống, độ cao giảm khiến thế năng giảm và phần năng lượng giảm đi đó chuyển hóa thành động năng.
Chọn chiều dương là chiều chuyển động đi lên của thang máy.
a) Thang máy đi lên đều.
Ta có: \(F_{k} = P = m g = 800.10 = 8000\) N
Công của động cơ khi đó là
\(A_{F} = F . s = 8000.12 = 96000\) J
b) Thang máy đi lên nhanh dần đều.
Ta có: \(F_{k} - P = m a \rightarrow F_{k} = P + m a = 8800\) N
Công của động cơ khi đó là
\(A_{F} = F . s = 8800.12 = 105600\) J
a) Ta có công của lực F F: A F = F s c o s 4 5 o = 10.2. 2 2 = 14 , 14 A F =Fscos45 o =10.2. 2 2 =14,14 J Công của lực ma sát là A F m s = F m s . s . c o s 18 0 o = − μ . N . s = − μ . ( P − F . s i n 4 5 o ) . s A F ms =F ms .s.cos180 o =−μ.N.s=−μ.(P−F.sin45 o ).s A F m s = − 0 , 2. ( 2.10 − 10. 2 2 ) . 2 = − 5 , 17 A F ms =−0,2.(2.10−10. 2 2 ).2=−5,17 J b) Công có ích là A c i = A F − ∣ A F m s ∣ = 14 , 14 − 5 , 17 = 8 , 97 A ci =A F −∣A F ms ∣=14,14−5,17=8,97 J Hiệu suất là H = A c i A t p . 100 % = 8 , 97 14 , 14 . 100 % = 63 , 44 % H= A tp A ci .100%= 14,14 8,97 .100%=63,44%