

Hoàng Hà Thu Huyền
Giới thiệu về bản thân



































Vì, luân canh cây họ đậu như khoai có thể giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất và duy trì lượng nitơ cần thiết cho sự phát triển của cây trồng
a.
- Môi trường nuôi cấy không liên tục: Là môi trường không được bổ sung chất dinh dưỡng mới và không được lấy sản phẩm trao đổi chất.
- Môi trường nuôi cấy liên tục: là mô hình nuôi cấy lớn thường xuyên được bổ sung các chất dinh dưỡng và Loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất, môi trường nuôi cấy như vậy được gọi là môi trường nuôi cấy liên tục.
b.
- Pha tiềm phát ( pha lag ): Từ vi sinh vật được nuôi cấy sinh trưởng ( phân chia ). Ở pha này, vi khuẩn thích nghi với môi trường, tổng hợp cho sự phân chia.
- Pha lũy thừa ( pha log ): vi sinh vật phân chia mạnh mẽ, số lượng tế bào tăng theo lũy thừa, đạt đến cực đại ở cuối pha.
- Pha cân bằng: dinh dưỡng trong môi trường giảm, chất độc hại tăng. Tốc độ sinh trưởng, trao đổi giảm dần, ổn định.
- Pha suy vong: số lượng tế bào trong quần thể ngày càng giảm do chất dinh dưỡng cạn kiệt, chất độc hại ngày càng nhiều.
Câu 1 (2.0 điểm)
Bài làm
Nhân vật Bê-li-cốp trong truyện ngắn "Người trong bao" là hình ảnh điển hình cho kiểu người bảo thủ, thu mình và sợ hãi cuộc sống. Ông ta luôn sống khép kín, tự tạo cho mình một "chiếc bao" để trốn tránh thế giới bên ngoài. Điều này thể hiện qua vẻ bề ngoài kỳ lạ: lúc nào cũng đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô dày cộm, đeo kính râm và nhét bông vào tai. Không chỉ vậy, những đồ vật ông sử dụng, từ chiếc đồng hồ đến con dao gọt bút chì, đều được bọc trong bao.Không chỉ ngoại hình, tư tưởng của Bê-li-cốp cũng bị gò bó trong những quy tắc cứng nhắc. Ông ta chỉ tin vào các chỉ thị, thông tư, luôn lo sợ những điều mới mẻ, sợ tự do và thay đổi. Ông ta khống chế cả môi trường xung quanh, khiến đồng nghiệp, học sinh và cả thành phố phải sống trong nỗi sợ hãi. Lối sống ấy không chỉ hủy hoại cá nhân mà còn làm trì trệ xã hội. Qua hình tượng này, Sê-khốp đã phê phán lối sống thủ cựu, hèn nhát, đồng thời gửi gắm thông điệp: con người cần bước ra khỏi "chiếc bao" của mình để sống tự do và ý nghĩa hơn.
Câu 2 ( 4.0 điểm)
Bài làm
Cuộc sống là một hành trình đầy thử thách và khó khăn, và để vượt qua những trở ngại đó, chúng ta cần có lòng can đảm và sẵn sàng bước ra khỏi vùng an toàn của mình. Vùng an toàn là nơi mà chúng ta cảm thấy thoải mái và không gặp bất kỳ rủi ro hay nguy hiểm nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ ở trong vùng an toàn mãi, chúng ta sẽ không bao giờ phát triển và trưởng thành được.
Để đạt được mục tiêu và khám phá tiềm năng thực sự của bản thân, chúng ta cần chấp nhận mạo hiểm và đối mặt với những thử thách mới. Khi chúng ta bước ra khỏi vùng an toàn, chúng ta sẽ học hỏi được nhiều điều mới mẻ, rèn luyện kỹ năng và tăng cường sự tự tin. Chúng ta cũng sẽ mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội và tạo ra cơ hội mới cho bản thân. Tuy nhiên, việc bước ra khỏi vùng an toàn không hề dễ dàng. Nó đòi hỏi chúng ta phải đối mặt với nỗi sợ hãi và lo lắng. Nhưng chính nhờ vượt qua những rào cản này, chúng ta mới có thể phát triển và trở nên mạnh mẽ hơn.Một ví dụ điển hình về việc bước ra khỏi vùng an toàn là khi chúng ta quyết định thay đổi công việc hoặc chuyển đến một đất nước mới. Điều này yêu cầu chúng ta phải thích nghi với môi trường mới, học ngôn ngữa mới và xây dựng mối quan hệ mới. Tuy nhiên sau khi vượt qua giai đoạn ban đầu khó khăn, chúng ta sẽ trải nghiệm cuộc sống phong phú hơn, và có cơ hội phát triển sự nghiệp tốt hơn.
Vì vậy, việc bước ra khỏi vùng an toàn là rất cần thiết để chúng ta phát triển và trưởng thành. Nó giúp chúng ta học hỏi, rèn luyện kỹ năng và mở rộng tầm nhìn. Mặc dù nó đòi hỏi sự can đảm và nỗ lực, nhưng kết quả cuối cùng luôn xứng đáng. Hãy dám dấn thân và khám phá thế giới bên ngoài vùng an toàn của bạn.
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 2 (0.5 điểm):
Nhân vật trung tâm của đoạn trích: Bê-li-cốp.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, do một nhân vật xưng "tôi" kể lại.
- Tác dụng:
+, Tạo sự chân thực, gần gũi, giúp người đọc cảm nhận trực tiếp suy nghĩ và thái độ của người kể đối với nhân vật Bê-li-cốp.
+, Thể hiện rõ sự châm biếm, phê phán đối với nhân vật "người trong bao".
Câu 4 (1.0 điểm):
Những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp:
- Ngoại hình: Luôn đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông, đeo kính râm, nhét bông vào tai, khi đi xe ngựa luôn kéo mui lên.
- Đồ vật luôn được để trong bao: Ô, đồng hồ, dao gọt bút chì.
- Tính cách: Sống thu mình, luôn lo sợ, tránh né thực tế, luôn ca ngợi quá khứ, chỉ tin vào mệnh lệnh, chỉ thị.
- Nhan đề đặt là "Người trong bao" Vì:
-" Bao" tượng trưng cho sự tù túng, bảo thủ, sống thu mình, xa rời thực tế của nhân vật Bê-li-cốp.
- Phê phán những con người sống gò bó, bị ràng buộc bởi những quy tắc cứng nhắc, sợ hãi mọi thứ, không dám thay đổi.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Phê phán lối sống thu mình, bảo thủ, sợ hãi thực tế trong đời sống.
- Cảnh báo về sự ảnh hưởng tiêu cực của những con người "trong bao" đối vớ xã hội.
- khuyến khích mọi người sống tích cực, cởi mở, thay đổi bản thân.
Câu 1 (2.0 điểm)
Bài làm
Nguyễn Trãi là một nhà văn, nhà thơ và nhà chính trị nổi tiếng của Việt Nam, và văn bản Chiếu cầu hiền tài là một trong những tác phẩm nổi bật của ông. Trong văn bản này, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận của mình một cách xuất sắc.Đầu tiên, Nguyễn Trãi đã sử dụng phương thức lập luận dựa trên kinh nghiệm lịch sử. Ông đã dẫn chứng về các vua thời xưa như Hán, Đường, và cách họ đã chọn người hiền tài để giúp cho đất nước. Điều này giúp cho luận điểm của ông trở nên thuyết phục hơn và có căn cứ lịch sử.Thứ hai, Nguyễn Trãi đã sử dụng phương thức lập luận dựa trên logic và lý trí. Ông đã phân tích và đánh giá tình hình, và đưa ra quyết định đúng đắn về việc chọn người hiền tài để giúp cho đất nước.Cuối cùng, Nguyễn Trãi đã sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt và sáng tạo. Ông đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, và nhân hóa để làm cho văn bản trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.Qua đó , nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong văn bản Chiếu cầu hiền tài là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho văn bản trở nên thuyết phục và có giá trị.
Câu 2 (4.0 điểm)
Bài làm
Về vai trò của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:”Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước đến vài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Thế hệ trẻ chính là lực lượng nòng cốt để giúp Việt Nam phát triển và nâng tầm của đất nước sánh vai với năm châu và các cường quốc.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là các tài năng trẻ Việt Nam hiện nay có xu hướng định cư, sinh sống và làm việc ở nước ngoài dẫn đến hiện tượng “chảy máu chất xám”. Nói một cách đơn giản, chảy máu chất xám là việc nhiều người tài, trí thức rời bỏ Việt Nam để định cư và làm việc ở nước ngoài. “Chất xám” ở đây là biểu hiện và tượng trưng cho trí tuệ, năng suất và sự sáng tạo của con người. Có rất nhiều bạn trẻ, nhân tài ở Việt Nam sau khi du học chọn ở lại làm việc và dùng tài năng của mình để tạo ra giá trị vật chất, của cải cho nước bạn thay vì về quê hương mình.Do “thất thoát” nguồn nhân tài, đất nước Việt Nam trong tương lai gần sẽ rơi vào tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Nguyên nhân chảy máu chất xám có thể được nhìn nhận từ cả góc độ chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, bắt nguồn từ việc chỉ mong muốn được sống và làm việc trong môi trường tốt với thu nhập cao, chỉ quan tâm đến lợi ích của cá nhân mà quên mất đi cội nguồn, quê hương, tổ tiên, dân tộc. Về mặt khách quan mà nói, Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển so với các nước phát triển không có đủ điều kiện và chế độ đãi ngộ phù hợp để người tài thể hiện tài năng và cống hiến hết mình cho đất nước.
Để xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, tạo điều kiện cho nhân tài Việt Nam phát triển và phát huy tài năng, nhà nước phải có biện pháp phù hợp tuyển dụng nhân tài và tạo điều kiện làm việc để thu hút họ. Mặt khác, mỗi cá nhân cũng phải phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, làm theo lời Bác Hồ, sẵn sàng phát huy tài năng, sức lực của mình để đưa đất nước ngày càng phát triển vươn lên.
Câu 1 (0.5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: nghị luận.
Câu 2 (0.5 điểm)
Chủ thể bài viết là vua Lê Thái Tổ.
Câu 3 (1.0 điểm)
- Mục đích chính của văn bản trên là kêu gọi các quan lại và người dân tiến cử người hiền tài để giúp cho đất nước.
- Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản bao gồm:
- Tiến cử người hiền tài từ triều đình và thôn dã.
- Tiến cử người hiền tài có tài văn võ, có thể trị dân coi quân.
- Thưởng cho những người tiến cử người hiền tài.
Câu 4 (1.0 điểm)
- Để minh chứng cho luận điểm rằng khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước, người viết đã đưa ra dẫn chứng về các vua thời xưa như Hán, Đường.
- Người viết đã nêu dẫn chứng một cách cụ thể và rõ ràng, đồng thời cũng đã phân tích và đánh giá dẫn chứng để làm cho luận điểm của mình trở nên thuyết phục hơn.
Câu 5 (1.0 điểm)
* Thông qua văn bản trên, chúng ta có thể nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết như sau:
- Vua Lê Thái Tổ là một người lãnh đạo có tầm nhìn xa và có khả năng lãnh đạo.
- Ông quan tâm đến việc chọn người hiền tài để giúp cho đất nước và có ý thức về trách nhiệm của mình.
- Ông cũng là một người có khả năng phân tích và đánh giá tình hình, đồng thời cũng có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn.
Câu 1 ( 2.0 điểm)
Bài làm
Cuộc sống khắc nghiệt luôn tồn tại vô vàn khó khăn và bất ngờ, đòi hỏi chúng ta nhanh chóng thích nghi và giải quyết vấn đề. Để làm được điều đó mỗi người cần Sự chủ động để giải quyết những tình huống xấu có thể xảy ra. Vậy chủ động là gì? Chủ động là có thể tự mình xoay sở, không bị bất ngờ và dẫn đến bất động không thể phản ứng được. Việc chuẩn bị trước giúp ta có sự nhanh gọn trong việc xử lý mọi việc, ít tổn thất và đạt mục đích của mình. Bạn sẽ không trở nên lúng túng hay sững sờ về những gì xảy ra, phải chăng những việc này bạn đã đều dự đoán và bạn biết phải làm thế nào cho đúng.Lối sống chủ động là chìa khóa giúp con người làm chủ cuộc đời, không bị cuốn theo hoàn cảnh. Khi biết tự đặt mục tiêu, dám nghĩ, dám làm, ta sẽ nắm bắt cơ hội và vươn tới thành công. Người sống chủ động luôn tràn đầy năng lượng, sáng tạo và linh hoạt trước mọi thử thách. Nhờ đó, không chỉ cá nhân phát triển mà xã hội cũng trở nên năng động, tiến bộ hơnTheo tôi, lối sống chủ động giúp con người làm chủ cuộc đời, nắm bắt cơ hội và phát triển bản thân. Nó không chỉ mang lại thành công cho cá nhân mà còn góp phần tạo nên một xã hội năng động, tiến bộ.Quan điểm trên xuất phát từ thực tế rằng những người chủ động thường đạt được thành công nhờ nỗ lực và sự linh hoạt trước cơ hội. Trong xã hội hiện đại, tính chủ động giúp cá nhân thích nghi với thay đổi, sáng tạo và phát triển bền vững. Ngược lại, sự thụ động dễ dẫn đến trì trệ, bỏ lỡ cơ hội và tụt hậu trong cuộc sống.Ngược lại, những người không có lối sống chủ động thường dễ rơi vào trạng thái trì trệ, phụ thuộc vào hoàn cảnh và bỏ lỡ nhiều cơ hội. Họ thiếu sự linh hoạt, ít dám thử thách bản thân nên khó đạt được thành công trong học tập, công việc và cuộc sống. Nếu cả cộng đồng đều thụ động, xã hội sẽ kém phát triển, thiếu sự sáng tạo và đổi mới.Lối sống chủ động giúp con người làm chủ cuộc đời, nắm bắt cơ hội và đạt được thành công. Thực tế cho thấy, những người dám nghĩ, dám làm như Elon Musk hay Steve Jobs đều tạo nên những thành tựu vĩ đại.Lối sống chủ động là chìa khóa giúp mỗi cá nhân làm chủ tương lai và góp phần xây dựng một xã hội phát triển. Khi mỗi người biết tự giác học hỏi, nỗ lực vươn lên, họ không chỉ tạo dựng thành công cho bản thân mà còn lan tỏa tinh thần tích cực đến cộng đồng. Do đó, mỗi cá nhân cần rèn luyện tính chủ động, dám nghĩ dám làm, còn xã hội cần tạo điều kiện để khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới. Chỉ khi đó, con người và xã hội mới không ngừng tiến bộ, hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm)
Cảm nhận của em về văn bản " Bảo kính cảnh giới "của tác giả Nguyễn Trãi . Đã thể hiện bức tranh thiên nhiên và cuộc sống thanh bình, ấm no của một người hết lòng vì dân, vì nước .
* 6 câu đầu:
- Cho ta biết về màu sắc, xanh đậm, tán cây hòe, đỏ lịm, hồng của hoa sen kèm mùi hương, vàng ánh nắng chiều từ lầu cao vọng xuống.
- Tiếp đó là đến âm thanhsốn: tiếng ve, thiên nhiên, cuộc sống con người cùng tiếng đàn với ước nguyện mà Nguyễn Trãi dành cho cuộc sống.
- Với động từ: " đùn đùn ", " tán rợp trương " , " phun thức đỏ "
=> câu thơ dường như cuốn trôi, bị nổi lên, quấn theo, trào theo bởi dòng tham nham thạch bị đổi màu sắc tán thành luồng khí đỏ
* 2 dòng cuối
=> một Nguyễn Trãi thanh nhàn, ung dung thoáng mát ở phần đầu, thì hai câu kết. là một Nguyễn Trãi nhàn thân chứ không nhàn tân, bởi trong ông luôn cháy bỏng nhưng ưu ái với dân và yếu đất nước.
==> bức tranh ngày hè đẹp sinh động, đầy sức sống vừa giản, dị dân dã đời thường, vừa tinh tế gợi cảm, nó mang vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, yêu đời yêu cuộc sống cùng tấm lòng vì,dân vì nước của tác giả. Qua đó thơ đường luật phá cách, thất ngôn xen lục ngôn thể hiện sự thay đổi cảm xúc, là cái tả cảnh ngụ tình, cùng ngôn ngữ bình dị và gần gũi
Câu 1(0.5 điểm)
Thể thơ của văn bản trên là: Thất ngôn bát cú đường luật.
Câu 2 (0.75 điểm)
Những hình ảnh về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả là:
- " Một mai, một cuốc, một cần câu "
- " Thu ăn măng trúc, đông ăn giá "
-" Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao "
Câu 3 (0.75 điểm)
" Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"
- Biện pháp tu từ liệt kê: " Một mai, một cuốc, một cần câu "
- Tác dụng: Tăng sức gợi hình, gợi cảm, giúp người đọc hình dung rõ nét vềvề, cược sống ảm đạm, thanh cao, không bon chen danh lợi thể hiện, tinh thần ung dung, tự tại của tác giả.
Câu 4 ( 1.0 điểm)
Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ đặc biệt là:
- Sử dụng phép đối: "ta" với "người", "khôn" với "dại", "vắng vẻ" với "lao xao"
-tự nhận mình là dại, cho người là khôn nhưng thực chất đó là cách nói ngược, hàm ý ( dại thực chất là khôn bởi ở nơi quê mùa con người mới được sống an nhiên, thanh thản) .
Câu 5 ( 1.0 điểm)
Bài làm
Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách cao quý của một bậc trí giả thanh cao, liêm khiết và có tấm lòng vì dân vì nước. Ông chọn cuộc sống ẩn dật nơi thôn quê nhưng vẫn đau đáu với thời cuộc, thể hiện qua những lời thơ mang triết lý sâu sắc. Nhân cách của ông còn được thể hiện ở lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, đề cao đạo lý và giữ vững khí tiết thanh bạch. Chính vì vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là nhà thơ lớn mà còn là tấm gương mẫu mực về nhân cách, để lại ảnh hưởng sâu rộng cho hậu thế.