

Hứa Tâm Như
Giới thiệu về bản thân



































Câu 1: Tính sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ trong bối cảnh xã hội hiện đại đầy biến động và cạnh tranh. Trước hết, sáng tạo giúp giới trẻ thích ứng linh hoạt với những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ, thị trường lao động và các vấn đề toàn cầu. Thay vì thụ động tiếp nhận những kiến thức và phương pháp cũ, tư duy sáng tạo khuyến khích họ tìm tòi, đổi mới, đưa ra những giải pháp độc đáo và hiệu quả cho các thách thức đặt ra.Thứ hai, sáng tạo là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển cá nhân. Khi dám nghĩ khác biệt, dám thử nghiệm những ý tưởng mới, giới trẻ sẽ khám phá ra những tiềm năng ẩn sâu của bản thân. Quá trình sáng tạo không chỉ mang lại những sản phẩm, giải pháp mới mà còn rèn luyện các kỹ năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm và khả năng tự học hỏi. Điều này giúp họ trở nên tự tin, chủ động và có khả năng cạnh tranh cao hơn trong tương lai.Thứ ba, sáng tạo là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Những ý tưởng sáng tạo của giới trẻ có thể mang lại những đột phá trong khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa và nghệ thuật, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Một xã hội khuyến khích và nuôi dưỡng sự sáng tạo của giới trẻ là một xã hội năng động, tiến bộ và có tương lai bền vững.Tóm lại, tính sáng tạo không chỉ là một phẩm chất cá nhân mà còn là một yếu tố then chốt quyết định sự thành công của thế hệ trẻ và sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Việc khuyến khích và tạo điều kiện để giới trẻ phát huy tối đa khả năng sáng tạo là một nhiệm vụ cấp thiết của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Câu 2: Viết bài văn bày tỏ cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện ngắn "Biển người mênh mông" (Nguyễn Ngọc Tư).Bài văn cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong "Biển người mênh mông" Truyện ngắn "Biển người mênh mông" của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ khắc họa một khung cảnh thiên nhiên sông nước miền Tây rộng lớn mà còn tài tình phác họa nên những nét đẹp trong tâm hồn và tính cách của con người Nam Bộ, tiêu biểu qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Dù ở hai thế hệ và có những hoàn cảnh sống khác nhau, cả hai đều mang trong mình những phẩm chất đáng quý, thể hiện rõ bản sắc của người dân vùng đất này. Nhân vật Phi hiện lên với sự mạnh mẽ, gan dạ và giàu tình thương. Từ nhỏ, Phi đã phải trải qua những mất mát và khó khăn của cuộc sống mưu sinh trên sông nước. Việc Phi sớm phải theo má đi chợ sống cho thấy sự tự lập và trưởng thành trước tuổi. Dù cuộc sống vất vả, Phi vẫn giữ được sự trong sáng và hồn nhiên của một đứa trẻ. Đặc biệt, tình cảm của Phi dành cho má là vô cùng sâu sắc. Sự lo lắng, xót xa khi má bị bệnh và quyết tâm tìm mọi cách chữa trị cho má đã thể hiện một trái tim hiếu thảo và đầy trách nhiệm. Hơn nữa, Phi còn cho thấy sự dũng cảm và quyết đoán khi đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Trái lại, ông Sáu Đèo là hình ảnh của một người đàn ông Nam Bộ hiền lành, chất phác và giàu lòng trắc ẩn. Dù không phải là người thân thích, ông vẫn sẵn sàng giúp đỡ mẹ con Phi một cách vô tư và chân thành. Lời khuyên "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má" cho thấy sự thấu hiểu và quan tâm sâu sắc của ông đối với hoàn cảnh của gia đình Phi. Ông Sáu Đèo đại diện cho những người dân Nam Bộ giàu tình nghĩa, sống chan hòa và luôn sẵn lòng sẻ chia với những người xung quanh. Sự mộc mạc, chân thành trong lời nói và hành động của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Mặc dù có những khác biệt về tuổi tác và hoàn cảnh, cả Phi và ông Sáu Đèo đều phản ánh những nét tính cách chung của con người Nam Bộ. Đó là sự kiên cường, lạc quan trước những khó khăn của cuộc sống, sự chân thành, nghĩa tình trong các mối quan hệ và một tấm lòng bao dung, nhân hậu. Họ là những con người gắn bó mật thiết với sông nước, mang trong sự phóng khoáng, hào sảng của vùng đất phương Nam. Tóm lại, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của con người Nam Bộ. Họ không chỉ là những người dân mộc mạc, chân chất mà còn là những con người giàu nghị lực, tình thương và lòng trắc ẩn. Những phẩm chất này đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo và đáng trân trọng của vùng đất phương Nam.
Câu 1 Kiểu văn bản của ngữ liệu trên là văn bản thuyết minh Câu 2. Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi: * Các ghe bán hàng được chế ra cách "bẹo" hàng bằng âm thanh lạ tại cửa những chiếc ken. * Có ken bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cốc). * Riêng các cô gái bán đồ ăn thức uống thì thường "bẹo hàng" bằng lời rao. * Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? * Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lánh lót, thiệt tha! Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên. * Xác định rõ ràng địa điểm mà văn bản đang nói đến, giúp người đọc hình dung cụ thể về không gian văn hóa chợ nổi. * Tăng tính xác thực và độ tin cậy cho thông tin được trình bày bằng cách trích dẫn nguồn cụ thể. * Mở rộng nguồn tham khảo cho người đọc muốn tìm hiểu thêm về chợ nổi miền Tây. Câu 4. * Thu hút sự chú ý của khách hàng từ xa, tạo ra âm thanh đặc trưng, dễ nhận biết của mỗi ghe hàng. * Truyền tải thông tin về mặt hàng một cách nhanh chóng và độc đáo, không cần lời nói. * Tạo nên nét văn hóa đặc sắc và sinh động cho không khí mua bán trên chợ nổi. Câu 5. Chợ nổi thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, góp phần phát triển du lịch địa phương. Chợ nổi là nơi gặp gỡ, giao lưu, trao đổi thông tin và tình cảm của người dân vùng sông nước. Không những thế, chợ nổi là một di sản văn hóa cần được bảo tồn và phát huy giá trị, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.Tóm lại, chợ nổi không chỉ là nơi mua bán mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân miền Tây, mang đậm dấu ấn của vùng sông nước và cần được trân trọng, bảo tồn.
Câu 1 Kiểu văn bản của ngữ liệu trên là văn bản thuyết minh Câu 2. Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi: * Các ghe bán hàng được chế ra cách "bẹo" hàng bằng âm thanh lạ tại cửa những chiếc ken. * Có ken bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cốc). * Riêng các cô gái bán đồ ăn thức uống thì thường "bẹo hàng" bằng lời rao. * Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? * Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lánh lót, thiệt tha! Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên. * Xác định rõ ràng địa điểm mà văn bản đang nói đến, giúp người đọc hình dung cụ thể về không gian văn hóa chợ nổi. * Tăng tính xác thực và độ tin cậy cho thông tin được trình bày bằng cách trích dẫn nguồn cụ thể. * Mở rộng nguồn tham khảo cho người đọc muốn tìm hiểu thêm về chợ nổi miền Tây. Câu 4. * Thu hút sự chú ý của khách hàng từ xa, tạo ra âm thanh đặc trưng, dễ nhận biết của mỗi ghe hàng. * Truyền tải thông tin về mặt hàng một cách nhanh chóng và độc đáo, không cần lời nói. * Tạo nên nét văn hóa đặc sắc và sinh động cho không khí mua bán trên chợ nổi. Câu 5. Chợ nổi thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, góp phần phát triển du lịch địa phương. Chợ nổi là nơi gặp gỡ, giao lưu, trao đổi thông tin và tình cảm của người dân vùng sông nước. Không những thế, chợ nổi là một di sản văn hóa cần được bảo tồn và phát huy giá trị, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.Tóm lại, chợ nổi không chỉ là nơi mua bán mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân miền Tây, mang đậm dấu ấn của vùng sông nước và cần được trân trọng, bảo tồn.
Câu 1: Thể thơ của văn bản trên là thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
* "Một mai, một cuốc, một cần câu."
* "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"
* "Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống"
Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ:
* "Một mai, một cuốc, một cần câu": Liệt kê những dụng cụ lao động đơn sơ, gắn liền với cuộc sống tự cung tự cấp.
* Tác dụng: Nhấn mạnh cuộc sống giản dị, thanh bần của tác giả, đồng thời thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên.
Câu 4: Quan niệm dại - khôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ngược với cách hiểu thông thường.
* "Dại" là lựa chọn cuộc sống thanh nhàn, tránh xa danh lợi bon chen.
* "Khôn" là tìm kiếm danh lợi ở chốn xô bồ.
* Quan niệm này thể hiện sự khác biệt trong cách sống, đề cao lối sống thanh cao, giữ vững phẩm chất của người quân tử.
Câu 5:
Qua bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người có cốt cách thanh cao, không màng danh lợi, phú quý. Ông lựa chọn cuộc sống giản dị, hòa mình vào thiên nhiên, giữ vững phẩm chất trong sạch, không bị cuốn theo vòng xoáy danh vọng. Đồng thời, ông cũng là người có trí tuệ uyên thâm, nhìn thấu lẽ đời, thể hiện qua quan niệm dại - khôn độc đáo