

Nguyễn Việt Hoàn
Giới thiệu về bản thân



































Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con làng Nủ” ở phần Đọc hiểu.
Đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con làng Nủ” của Đỗ Xuân Thu đã sử dụng những đặc sắc nghệ thuật để diễn tả nỗi đau, sự mất mát của một đứa trẻ trong cảnh lũ lụt. Một trong những điểm nổi bật là biện pháp tu từ. Các câu hỏi tu từ như "Làng Nủ mình đâu rồi bố ơi?", "Sao giờ đây con chỉ thấy bùn?" không chỉ thể hiện sự ngạc nhiên, hoang mang của đứa trẻ mà còn làm nổi bật nỗi đau của cảnh ngộ, khiến người đọc cảm nhận được sự tàn phá của thiên tai. Hình ảnh ẩn dụ như "mũi mồm toàn bùn đất", "dưới đất này lạnh lắm" làm tăng tính chất tăm tối, đau khổ của hoàn cảnh, đồng thời thể hiện sự bế tắc, tuyệt vọng của nhân vật trữ tình. Lối viết tường thuật kết hợp với độc thoại nội tâm giúp thể hiện được sự trong sáng, ngây thơ của đứa trẻ, đồng thời làm nổi bật sự thiếu thốn tình cảm và sự cô đơn trong tâm hồn của nhân vật. Tất cả những yếu tố này đã góp phần làm cho bài thơ trở nên xúc động, mang đậm tính nhân văn.
Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về việc cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình.
Cuộc sống của mỗi chúng ta là một hành trình dài, nơi mà mỗi người phải tìm cách cân bằng giữa những gì mình yêu thích và những điều mình cần làm. Đặc biệt, đối với học sinh, việc cân bằng giữa những mong muốn cá nhân và kỳ vọng của gia đình luôn là một vấn đề nhức nhối. Trước hết, cha mẹ thường có những kỳ vọng rất lớn về sự thành công của con cái. Họ mong muốn con mình đạt được những thành tựu trong học tập, nghề nghiệp, và có một tương lai vững chắc. Tuy nhiên, sự kỳ vọng này đôi khi có thể tạo ra áp lực không nhỏ đối với học sinh.
Là một người trẻ, em hiểu rằng mình cần học cách cân bằng giữa những mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình để không bị chìm trong cảm giác mệt mỏi hay thất bại. Việc xác định rõ mục tiêu của mình là rất quan trọng. Mỗi học sinh cần phải hiểu rõ đam mê, sở thích của bản thân, điều gì thực sự làm mình hạnh phúc và muốn theo đuổi. Ví dụ, nếu em yêu thích âm nhạc nhưng gia đình lại muốn em trở thành bác sĩ, em có thể tìm cách để thuyết phục cha mẹ hiểu rằng âm nhạc không chỉ là đam mê mà còn có thể là một nghề nghiệp bền vững. Từ đó, em sẽ cố gắng chứng minh rằng việc theo đuổi đam mê không đồng nghĩa với việc không thành công.
Để làm được điều này, em cũng cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ, kỳ vọng của gia đình, chẳng hạn như học tập chăm chỉ, hoàn thành bài vở và tham gia các hoạt động ngoại khóa. Bằng cách này, em có thể chứng minh với gia đình rằng em có thể đạt được sự nghiệp vững chắc trong khi vẫn duy trì được niềm đam mê của mình.
Hơn nữa, học sinh cần học cách giao tiếp và lắng nghe gia đình. Việc thẳng thắn chia sẻ cảm xúc và nguyện vọng của bản thân sẽ giúp tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau. Nếu gia đình hiểu được mong muốn của con cái, họ sẽ dễ dàng điều chỉnh kỳ vọng và hỗ trợ con cái tìm ra con đường phát triển phù hợp nhất.
Cuối cùng, việc duy trì sự cân bằng này không chỉ giúp em cảm thấy hạnh phúc mà còn có thể giúp gia đình cảm thấy tự hào về con cái. Hành trình tìm kiếm sự cân bằng này là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhưng nó chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta những kết quả tốt đẹp trong tương lai.
1. Đổi đơn vị:
- Chiều dài: 25 dm = 2,5 m
- Chiều rộng: 1,8 m
- Chiều cao: 0,8 m
2. Tính diện tích các mặt của bể cá:
- Diện tích mặt đáy: 2,5 m x 1,8 m = 4,5 m²
- Diện tích mặt bên dài: 2,5 m x 0,8 m = 2 m²
- Diện tích mặt bên rộng: 1,8 m x 0,8 m = 1,44 m²
3. Tính tổng diện tích kính cần dùng:
- Vì bể cá không có nắp, nên ta chỉ tính diện tích đáy và 4 mặt bên.
- Tổng diện tích kính: 4,5 m² + 2 m² + 2 m² + 1,44 m² + 1,44 m² = 11,38 m²
Đáp số: Cần sử dụng 11,38 mét vuông kính để làm bể cá đó.
Câu 1: Phân tích đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con làng Nủ”
Bài thơ "Xin trả lại con làng Nủ" của nhà thơ Y Phương là một tác phẩm đầy xúc động, thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước và nỗi đau mất mát trong chiến tranh. Đoạn trích được sử dụng trong phần Đọc hiểu thường tập trung vào những hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng và giọng điệu trữ tình sâu lắng.
Những đặc sắc nghệ thuật nổi bật:
- Hình ảnh thơ độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa: Y Phương sử dụng những hình ảnh gần gũi với đời sống của người dân tộc Tày như "làng Nủ", "con sông", "cánh rừng",... để diễn tả tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương. Đồng thời, những hình ảnh này cũng mang tính biểu tượng cao, thể hiện sự mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra.
- Giọng điệu trữ tình sâu lắng, giàu cảm xúc: Bài thơ có giọng điệu trữ tình da diết, thể hiện nỗi đau xót của người cha khi mất con, đồng thời cũng thể hiện niềm tự hào về sự hy sinh cao cả của con cho đất nước.
- Sử dụng các biện pháp tu từ hiệu quả: Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa,... được sử dụng một cách tinh tế, góp phần làm tăng tính biểu cảm cho bài thơ. Ví dụ, hình ảnh "con sông" có thể được hiểu là dòng chảy của thời gian, của lịch sử, còn "cánh rừng" có thể tượng trưng cho quê hương, đất nước.
- Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi: Y Phương sử dụng ngôn ngữ thơ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, nhưng vẫn đảm bảo tính hàm súc và giàu sức gợi. Điều này giúp bài thơ dễ dàng đi vào lòng người đọc, tạo được sự đồng cảm sâu sắc.
Câu 2: Suy nghĩ về sự cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình
Trong cuộc sống của mỗi người trẻ, việc tìm kiếm sự cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình là một thách thức không hề nhỏ. Đặc biệt, đối với học sinh, đây là giai đoạn quan trọng để định hình tương lai, việc cân bằng này càng trở nên cần thiết.
Để cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình, học sinh cần:
- Hiểu rõ bản thân: Trước hết, học sinh cần hiểu rõ bản thân mình, biết mình thực sự đam mê và có năng lực ở lĩnh vực nào. Điều này giúp các em xác định được mục tiêu và con đường phát triển phù hợp với bản thân.
- Giao tiếp cởi mở với gia đình: Học sinh cần chia sẻ thẳng thắn với gia đình về những mong muốn, ước mơ của mình. Đồng thời, các em cũng cần lắng nghe và tôn trọng ý kiến của gia đình.
- Tìm điểm chung giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình: Trong nhiều trường hợp, mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình có thể không hoàn toàn trái ngược nhau. Học sinh cần tìm ra những điểm chung, những giá trị mà cả hai bên cùng hướng tới, để từ đó tìm ra giải pháp dung hòa.
- Chứng minh năng lực của bản thân: Để thuyết phục gia đình ủng hộ quyết định của mình, học sinh cần chứng minh năng lực và sự nghiêm túc của bản thân bằng những hành động cụ thể.
- Tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài: Nếu gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình, học sinh có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ thầy cô, bạn bè hoặc những người có kinh nghiệm.
Kết luận:
Việc cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình là một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực và kiên trì. Tuy nhiên, nếu học sinh biết cách giao tiếp, lắng nghe và thấu hiểu, các em hoàn toàn có thể tìm ra giải pháp tốt nhất cho bản thân và gia đình.
Chắc chắn rồi, tôi sẽ giúp bạn trả lời các câu hỏi về bài thơ "Xin trả lại con làng Nủ":
Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một đứa trẻ, xưng "con", đang trong hoàn cảnh bị vùi lấp trong bùn đất sau một trận lũ.
Câu 2: Xác định những từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu.
Những từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của "con" trong hai khổ thơ đầu là:
- "lấm lem bùn lũ"
- "mù mịt"
- "không cựa được chân tay"
- "không thở được, mũi mồm toàn bùn đất"
- "ôm con rất chặt" (cho thấy sự nguy hiểm và cần được bảo vệ)
Câu 3: Nhận xét về tác dụng của biện pháp tu từ được dùng trong đoạn thơ sau:
Trường của con vừa khai giảng hôm qua Con sung sướng ngày đầu tiên đi học Chưa biết tên bạn bè, nhiều đứa còn dỗi khóc Sao giờ đây con chỉ thấy bùn?
Biện pháp tu từ nổi bật trong đoạn thơ này là tương phản. Sự tương phản giữa niềm vui ngày đầu tiên đi học với thực tại đau thương, mất mát hiện tại (chỉ thấy bùn) làm nổi bật sự tàn khốc của thiên tai. Nó nhấn mạnh sự mất mát những điều bình dị của một đứa trẻ, gây xúc động mạnh mẽ cho người đọc.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi đau xót, thương cảm trước sự mất mát to lớn do thiên tai gây ra, đặc biệt là đối với trẻ em. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện tình yêu thương gia đình, quê hương tha thiết.
Câu 5: Từ góc nhìn của người trẻ, em có thể làm gì để chia sẻ với những người ở vùng lũ?
Từ góc nhìn của người trẻ, em có thể làm nhiều việc để chia sẻ với những người ở vùng lũ:
- Quyên góp: Tham gia các hoạt động quyên góp tiền bạc, quần áo, sách vở, đồ dùng học tập, thực phẩm, và các nhu yếu phẩm khác.
- Lan tỏa thông tin: Chia sẻ thông tin về tình hình lũ lụt và các hoạt động cứu trợ trên mạng xã hội để kêu gọi sự quan tâm và ủng hộ từ cộng đồng.
- Tham gia các hoạt động tình nguyện: Nếu có cơ hội, tham gia trực tiếp vào các hoạt động tình nguyện tại vùng lũ, giúp đỡ người dân dọn dẹp, xây dựng lại nhà cửa, hoặc hỗ trợ các hoạt động cứu trợ.
- Gửi lời động viên: Viết thư, làm video, hoặc sử dụng các hình thức nghệ thuật khác để gửi lời động viên, chia sẻ với những người đang gặp khó khăn.
- Tiết kiệm và chia sẻ: Tiết kiệm một phần tiền tiêu vặt của mình để ủng hộ các quỹ cứu trợ, hoặc chia sẻ những đồ dùng cá nhân không còn sử dụng đến với những người cần.
- Nâng cao nhận thức: Tìm hiểu về nguyên nhân và hậu quả của lũ lụt, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Những hành động nhỏ bé của mỗi người trẻ đều có thể góp phần tạo nên sức mạnh lớn lao, giúp đỡ những người đang gặp khó khăn do thiên tai.
Để giải quyết bài toán này, ta sẽ sử dụng các bước sau:
1. Đặt ẩn số:
- Gọi hai số dương cần tìm là x và y.
- Tổng của chúng là x + y.
- Hiệu của chúng là x - y (giả sử x > y).
- Tích của chúng là xy.
2. Lập tỉ lệ nghịch:
Theo đề bài, tổng, hiệu và tích của chúng tỉ lệ nghịch với 15, 60 và 4, ta có:
- 15(x + y) = 60(x - y) = 4xy
3. Giải hệ phương trình:
Từ tỉ lệ trên, ta có thể lập hệ phương trình:
- 15(x + y) = 60(x - y) (1)
- 60(x - y) = 4xy (2)
Giải phương trình (1):
- 15x + 15y = 60x - 60y
- 75y = 45x
- x = (75/45)y = (5/3)y
Thay x = (5/3)y vào phương trình (2):
- 60((5/3)y - y) = 4*((5/3)y)y
- 60*(2/3)y = (20/3)*y²
- 40y = (20/3)*y²
- 120y = 20*y²
- 20y² - 120y* = 0
- 20y(y - 6) = 0
Vì y là số dương nên y = 6.
Thay y = 6 vào x = (5/3)y:
- x = (5/3)*6 = 10
4. Kết luận:
Vậy hai số dương cần tìm là 10 và 6.
a) Chứng minh tứ giác BCDE nội tiếp:
- Giả thiết: Tam giác ABC nhọn nội tiếp đường tròn (O), BD và CE là các đường cao.
- Chứng minh:
- Vì BD là đường cao của tam giác ABC, nên góc BDC = 90 độ.
- Vì CE là đường cao của tam giác ABC, nên góc BEC = 90 độ.
- Xét tứ giác BCDE, ta có góc BDC + góc BEC = 90 độ + 90 độ = 180 độ.
- Vậy tứ giác BCDE nội tiếp (tứ giác có tổng hai góc đối bằng 180 độ).
b) Chứng minh góc NDM = góc NEM:
- Giả thiết: M, N lần lượt là trung điểm của BC và AH.
- Chứng minh:
- Vì M là trung điểm của BC, ta có BM = MC.
- Vì N là trung điểm của AH, ta có AN = NH.
- Xét tam giác AHD, vì N là trung điểm của AH và MD là đường trung bình của tam giác AHD, nên MD // AH và MD = 1/2 AH.
- Tương tự, xét tam giác AHE, vì N là trung điểm của AH và ME là đường trung bình của tam giác AHE, nên ME // AH và ME = 1/2 AH.
- Do đó, MD // ME và MD = ME.
- Vì MD // AH, ta có góc NDM = góc NAH.
- Vì ME // AH, ta có góc NEM = góc NAH.
- Vậy góc NDM = góc NEM.
c) Chứng minh góc MLB = góc MKB:
- Giả thiết: K, L lần lượt là giao điểm của OM và CE, MN và BD.
- Chứng minh:
- Vì M là trung điểm của BC, nên OM vuông góc với BC.
- Vì BD vuông góc với AC, nên góc BDL = 90 độ.
- Vì CE vuông góc với AB, nên góc CEK = 90 độ.
- Xét tứ giác BDLM, ta có góc BDL = 90 độ và góc BML = 90 độ (do OM vuông góc BC).
- Vậy tứ giác BDLM nội tiếp đường tròn.
- Suy ra góc MLB = góc MDB (cùng chắn cung MB).
- Xét tứ giác CEKM, ta có góc CEK = 90 độ và góc CMK = 90 độ (do OM vuông góc BC).
- Vậy tứ giác CEKM nội tiếp đường tròn.
- Suy ra góc MKB = góc MEC (cùng chắn cung MC).
- Ta đã chứng minh được góc NDM = góc NEM (từ câu b).
- Vì góc MDB = góc NDM và góc MEC = góc NEM, ta suy ra góc MDB = góc MEC.
- Vậy góc MLB = góc MKB.
Kết luận:
- a) Tứ giác BCDE nội tiếp.
- b) Góc NDM = góc NEM.
- c) Góc MLB = góc MKB.
Thời tiết của Hà Nội và Hồ Chí Minh có những đặc điểm rất khác biệt do vị trí địa lý và ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu:
Hà Nội:
- Khí hậu:
- Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông.
- Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 9).
- Mùa đông lạnh, khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), có thể có mưa phùn.
- Mùa xuân và mùa thu là hai khoảng thời gian chuyển tiếp, thời tiết dễ chịu.
- Đặc điểm:
- Nhiệt độ trung bình năm thấp hơn so với Hồ Chí Minh.
- Biên độ nhiệt giữa các mùa lớn.
- Có hiện tượng nồm ẩm vào mùa xuân.
Hồ Chí Minh:
- Khí hậu:
- Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có hai mùa chính: mùa mưa và mùa khô.
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa lớn.
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thời tiết nóng và khô.
- Nhiệt độ cao và ổn định quanh năm.
- Đặc điểm:
- Nhiệt độ trung bình năm cao hơn Hà Nội.
- Biên độ nhiệt giữa các mùa nhỏ.
- Ít có sự thay đổi nhiệt độ rõ rệt giữa các mùa.
Tóm lại:
- Hà Nội có 4 mùa rõ rệt với mùa đông lạnh, trong khi Hồ Chí Minh chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô với nhiệt độ cao quanh năm.
- Nhiệt độ trung bình ở Hồ Chí Minh cao hơn so với Hà Nội.
- Hà Nội có hiện tượng nồm ẩm vào mùa xuân, điều mà trong Hồ Chí Minh không có.
Để có thông tin thời tiết chính xác và cập nhật nhất, bạn nên tham khảo các nguồn tin từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia.
1. Tính thể tích của chiếc bánh bông lan hình lập phương:
- Công thức tính thể tích hình lập phương: V = cạnh x cạnh x cạnh
- Thể tích chiếc bánh: V = 22 cm x 22 cm x 22 cm = 10648 cm³
2. Tính thể tích của mỗi phần bánh:
- Mẹ chia chiếc bánh thành 8 phần bằng nhau.
- Thể tích mỗi phần bánh: 10648 cm³ / 8 = 1331 cm³
Đáp số: Thể tích của mỗi phần bánh là 1331 cm³.
a) Chứng minh tứ giác BCME nội tiếp:
- Góc BMC là góc nội tiếp chắn nửa đường tròn (O), nên ∠BMC = 90°.
- Góc BCE = 90° (do EC vuông góc với AB tại C).
- Tứ giác BCME có hai góc đối diện (∠BMC và ∠BCE) cùng bằng 90°, nên tổng hai góc đó bằng 180°.
- Vậy tứ giác BCME nội tiếp được đường tròn.
b) Chứng minh BF.BM = BE.NE không đổi:
- Xét tam giác vuông MAB có MB là đường cao, ta có: BM² = BC.BA.
- Vì BC và BA cố định, nên BM² không đổi.
- Tứ giác BCME nội tiếp, suy ra ∠MEB = ∠MCB.
- Tứ giác AFEC nội tiếp, suy ra ∠MCB = ∠FAB.
- Suy ra ∠MEB = ∠FAB.
- Tam giác EAN đồng dạng với tam giác FBN (g.g), suy ra: NE/BF = BE/BN hay BE.BF = NE.BN.
- Tứ giác AENF nội tiếp, suy ra NE.BN=AE.NF
- Tam giác AME đồng dạng với tam giác BMF(g.g) suy ra AE.BF=BE.AM
- Suy ra BE.BF=AE.NF=BE.AM.
- Mà AM=MB
- Suy ra BE.BF=BE.MB
- Suy ra BF.BM = BE.MB = BC.BA (không đổi).
c) Chứng minh đường tròn ngoại tiếp tam giác AEF luôn đi qua một điểm cố định khác A:
- Gọi I là giao điểm của đường tròn ngoại tiếp tam giác AEF với AB.
- Tứ giác AEIF nội tiếp, suy ra ∠AIE = ∠AFE.
- Tứ giác BCME nội tiếp, suy ra ∠AFE = ∠CBE.
- Suy ra ∠AIE = ∠CBE.
- Mà ∠CBE = ∠ABM = 90° - ∠MAB.
- Tam giác ACI có ∠AIC = 90° - ∠MAB, suy ra ∠ACI = 90° - ∠IAC.
- Vì ∠MAB = ∠IAC, nên ∠AIC = ∠ACI.
- Suy ra tam giác ACI cân tại C.
- Do đó, CI = CA.
- Vì C và A cố định, nên I cố định.
- Vậy đường tròn ngoại tiếp tam giác AEF luôn đi qua điểm I cố định khác A.
Kết luận:
- Tứ giác BCME nội tiếp.
- BF.BM = BE.MB không đổi.
- Đường tròn ngoại tiếp tam giác AEF luôn đi qua một điểm cố định khác A.
Hy vọng lời giải này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bài toán.
Đáp án là "tiền" của chồng.