

Nguyễn Phương Hạ
Giới thiệu về bản thân



































a) Tế bào trên đang ở kì nào của quá trình phân bào? Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n) của loài trên là bao nhiêu?
Hình vẽ cho thấy các nhiễm sắc thể đang tập trung thành hai hàng ở mặt phẳng xích đạo của tế bào, mỗi nhiễm sắc thể gồm hai nhiễm sắc tử gắn với nhau ở tâm động. Đây là đặc điểm của kì giữa của nguyên phân.
Có 8 nhiễm sắc thể kép xếp thành hai hàng, nghĩa là 2n = 8.
b) Sau khi phân bào xong đếm được tổng cộng có 192 nhiễm sắc thể thì có bao nhiêu tế bào đã tham gia phân bào?
Mỗi tế bào phân bào nguyên phân sẽ tạo ra 2 tế bào con, mỗi tế bào con có 2n = 8 nhiễm sắc thể.
Gọi số tế bào ban đầu là x, thì sau phân bào sẽ tạo ra 2x tế bào con.
Tổng số nhiễm sắc thể sau phân bào là:
=> Có 12 tế bào đã tham gia phân bào.
a) Sử dụng phương pháp trên có thể nghiên cứu được những đặc điểm nào của vi khuẩn?
Phương pháp trên là phương pháp nhuộm Gram, cho phép:
Phân biệt được vi khuẩn Gram dương (nhuộm màu tím) và Gram âm (nhuộm màu đỏ hồng) dựa vào thành phần cấu trúc thành tế bào.
Quan sát được hình dạng (hình que, hình cầu...) và cách sắp xếp (từng đôi, chuỗi, cụm...) của vi khuẩn dưới kính hiển vi.
b) Vi khuẩn có những hình thức sinh sản nào? Phương pháp trên có thể xác định được vi khuẩn đang quan sát có hình thức sinh sản nào hay không?
Vi khuẩn chủ yếu sinh sản bằng hình thức phân đôi. Một số vi khuẩn có thể sinh bào tử trong điều kiện khắc nghiệt.
Phương pháp nhuộm Gram không xác định được hình thức sinh sản của vi khuẩn vì nó chỉ cho hình ảnh tĩnh, không phản ánh được quá trình phân chia tế bào. Để quan sát hình thức sinh sản, cần sử dụng các phương pháp khác như nuôi cấy và theo dõi vi khuẩn trong thời gian dài dưới kính hiển vi.
Vi sinh vật có những kiểu dinh dưỡng nào? Phân biệt các kiểu dinh dưỡng đó (nguồn năng lượng, nguồn carbon, ví dụ vi sinh vật điển hình).
Vi sinh vật có 4 kiểu dinh dưỡng chính, được phân loại dựa trên nguồn năng lượng và nguồn carbon:
1. Quang tự dưỡng (quang dưỡng - tự dưỡng):
Nguồn năng lượng: ánh sáng.
Nguồn carbon: CO₂ (tự dưỡng).
Ví dụ: Vi khuẩn lam (Cyanobacteria).
2. Quang dị dưỡng (quang dưỡng - dị dưỡng):
Nguồn năng lượng: ánh sáng.
Nguồn carbon: hợp chất hữu cơ.
Ví dụ: Vi khuẩn lưu huỳnh màu tía.
3. Hóa tự dưỡng (hóa dưỡng - tự dưỡng):
Nguồn năng lượng: các chất vô cơ (như NH₃, H₂S...).
Nguồn carbon: CO₂.
Ví dụ: Vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn oxi hóa lưu huỳnh.
4. Hóa dị dưỡng (hóa dưỡng - dị dưỡng):
Nguồn năng lượng: hợp chất hữu cơ.
Nguồn carbon: hợp chất hữu cơ.
Ví dụ: Vi khuẩn E. coli, vi khuẩn lactic.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Quá trình này dựa trên nguyên tắc vi khuẩn chuyển hoá N2 phân tử sang dạng NH3 vừa cung cấp cho đất, vừa cung cấp cho cây. Vì thế chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó (đất thiếu Nito dạng dễ hấp thụ) thì sẽ bổ sung và duy trì lượng nitrogen trong đất.
a, Môi trường nuôi cấy không liên tục là môi trường nuôi cấy không được bổ sung chất dinh dưỡng mới và không được lấy đi các sản phẩm trao đổi chất.
- Môi trường nuôi cấy liên tục là môi trường thường xuyên được bổ sung chất dinh dưỡng mới và loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất.
b, Các pha sinh trưởng của vi khuẩn trong môi trường nuôi cấy không liên tục: 4 pha.
* Pha tiềm phát (pha Lag)
- Vi khuẩn thích nghi với môi trường.
- Số lượng tế bào trong quần thể không tăng.
- Enzim cảm ứng được hình thành.
* Pha lũy thừa (pha Log)
- Vi khuẩn bắt đầu phân chia, số lượng tế bào tăng theo lũy thừa.
- Hằng số M không đủ theo thời gian và là cực đại đối với một số chủng và điều kiện nuôi cấy.
* Pha cân bằng
- Số lượng vi sinh vật đạt mức cực đại, không đổi theo thời gian là do:
+ Một số tế bào bị phân hủy.
+ Một số khác có chất dinh dưỡng lại phân chia.
* Pha suy vong
- Số tế bào trong quần thể giảm dần do:
+ Số tế bào bị phân hủy nhiều.
+ Chất dinh dưỡng bị cạn kiệt.
+ Chất độc hại tích lũy nhiều.