Trần Thị Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Câu 2.

Hình ảnh đời mẹ được so sánh với:

Bến vắng bên sông

Cây tự quên mình trong quả

Trời xanh nhẫn nại sau mây

Con đường nhỏ dẫn về bao tổ ấm

Câu 3.

Biện pháp tu từ: Ẩn dụ

Tác dụng: Câu thơ dùng hình ảnh quả và cây để nói về công lao của mẹ (cây) đối với con (quả). Khi con thành đạt, ít ai nhớ tới người đã hi sinh thầm lặng cho mình. Câu thơ nhấn mạnh sự quên lãng vô tình của con người đối với tình mẹ, làm nổi bật sự thiêng liêng và cao cả của mẹ.

Câu 4.

Hai dòng thơ thể hiện mong muốn chân thành và sâu sắc của người con: muốn có những lời dịu dàng, yêu thương để vỗ về, an ủi mẹ trong tuổi già. Đây là biểu hiện của sự hiếu thảo, yêu thương, biết ơn và trân trọng những hi sinh thầm lặng của mẹ.

Câu 5.

Bài học rút ra: Hãy biết yêu thương, quan tâm và báo đáp công ơn cha mẹ khi còn có thể. Đừng để sự hi sinh của mẹ trở thành điều bị lãng quên khi ta trưởng thành, mà hãy luôn giữ lòng biết ơn và thể hiện tình cảm một cách chân thành với mẹ cha.


Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là biểu cảm.

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện “năm khốn khó” là: “đồng sau lụt”, “bờ đê sụt lở”, “chịu đói suốt ngày tròn”, “co ro bậu cửa”, “có gì nấu đâu mà nhóm lửa”, “ngô hay khoai còn ở phía mẹ về”.

Câu 3.

Biện pháp tu từ: ẩn dụ và nhân hóa.

Tác dụng: Thể hiện nỗi đau xót, nhớ thương mẹ da diết của người con; cho thấy sự bất lực khi không thể nói với mẹ điều gì nữa vì mẹ đã khuất.

Câu 4. Dòng thơ “Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn” thể hiện hình ảnh người mẹ tảo tần, vất vả gánh gồng mưu sinh trong cảnh chiều tà. Từ “xộc xệch” gợi cảm giác lam lũ, nhọc nhằn, làm nổi bật sự hi sinh thầm lặng của mẹ.

Câu 5.

Thông điệp: Tình mẹ là thiêng liêng và bất diệt trong lòng con.

Lí do: Vì dù mẹ đã khuất, hình ảnh mẹ vẫn hiện về trong giấc mơ, trong nỗi nhớ day dứt của con. Đoạn thơ gợi nhắc chúng ta phải biết yêu thương, trân trọng mẹ khi còn có thể, bởi không gì có thể thay thế được mẹ trong cuộc đời mỗi người.



Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn hiện đại.Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri hay hạn tri

Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri.

Giải thích: Người kể không xuất hiện như một nhân vật, nhưng lại biết và thuật lại được tâm trạng, suy nghĩ thầm kín của nhiều nhân vật khác nhau như San, Sáu Tâm, Điệp,… Điều đó thể hiện điểm nhìn toàn tri.

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của thành phần chêm xen trong đoạn văn sau:

“…như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát…”

Thành phần chêm xen: “như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát”

Tác dụng:
Thành phần này bổ sung thông tin mang tính giải thích, bình luận, giúp người đọc hiểu rõ hơn về nội dung những vai diễn mà San yêu thích, từ đó làm nổi bật tâm hồn nhạy cảm, khát khao tình thân và ước mơ nghệ thuật của nhân vật.

Câu 4: Phân tích tác dụng của điểm nhìn trần thuật trong đoạn sau:

“Những khi quán vắng, San cố ngủ cho nhiều…”

Điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn là từ tâm lý nhân vật San (tuy người kể là toàn tri, nhưng đoạn này chọn điểm nhìn từ nhân vật).

Tác dụng:

Giúp người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi cô đơn, mỏi mệt và khát khao thoát khỏi thực tại đau khổ của San.Bộc lộ rõ nỗi trống trải tinh thần, nỗi đau về gia đình, ước mơ không thành và sự mỏi mòn của một đời người bị xã hội ruồng rẫy.Tạo chiều sâu tâm lý và khiến người đọc đồng cảm, xót xa cho nhân vật.Câu 5: Văn bản này để lại trong em những cảm nhận, suy nghĩ gì?

Văn bản để lại trong em một cảm giác xót xa, cảm động và day dứt. Qua câu chuyện của San, Sáu Tâm và Điệp, em thấu hiểu hơn về số phận con người nhỏ bé, đặc biệt là những người phụ nữ nghèo, những người nghệ sĩ sống vì đam mê và tình người.

Dù cuộc đời đầy bất hạnh, San vẫn giữ trong lòng hình ảnh đẹp và nhân văn, vẫn sống với ước mơ và lòng yêu thương.

Tác phẩm khiến em nhận ra rằng lòng tốt, sự cảm thông và tình thương chân thành có thể xoa dịu nỗi đau và làm đẹp một kiếp người, dù người ấy không được toả sáng trên sân khấu cuộc đời.


Câu 1. Thể thơ của văn bản trên là thơ tự do. Câu 2. Trong văn bản, hạnh phúc được miêu tả qua các tính từ: xanh, thơm, im lặng, dịu dàng, vô tư. Câu 3. Đoạn thơ: Hạnh phúc đôi khi như quả thơm trong im lặng, dịu dàng Diễn tả rằng hạnh phúc có thể đến một cách lặng lẽ, nhẹ nhàng như hương thơm của quả chín. Đó là những niềm vui giản dị, không phô trương, nhưng sâu sắc và tinh tế. Hạnh phúc có thể đến từ những điều bình dị trong cuộc sống. Câu 4. Biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ:

Hạnh phúc đôi khi như sông vô tư trôi về biển cả Chẳng cần biết mình đầy vơi Tác dụng: So sánh hạnh phúc với dòng sông gợi hình ảnh về sự tự nhiên, thanh thản, vô tư. Dòng sông trôi không quan tâm đến việc mình đầy hay vơi, giống như hạnh phúc chân thật không đo đếm bằng vật chất hay điều kiện, mà là sự buông bỏ, an nhiên, chấp nhận. Biện pháp này giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp nhẹ nhàng, sâu lắng của hạnh phúc.

Câu 5. Nhận xét quan niệm về hạnh phúc của tác giả được thể hiện trong đoạn trích: Quan niệm về hạnh phúc của tác giả trong đoạn thơ rất nhẹ nhàng và sâu sắc. Hạnh phúc không phải là điều xa vời, lớn lao, mà hiện hữu trong những điều giản dị, gần gũi như chiếc lá, quả chín hay dòng sông. Hạnh phúc có thể đến trong sự tĩnh lặng, dịu dàng, đôi khi vô tư, không cần lý do hay điều kiện cụ thể. Tác giả nhấn mạnh rằng, hạnh phúc không phải lúc nào cũng rõ ràng, đủ đầy, mà đôi khi chính sự không toan tính, không đo đếm lại khiến con người cảm thấy thanh thản và trọn vẹn. Đây là một quan niệm sâu sắc, nhân văn và mang tính chiêm nghiệm cao về cuộc sống.

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận.

Câu 2. Hai cặp từ, cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn (1): Tằn tiện – phung phí Ưa bay nhảy – ở nhà

Câu 3. Lý do tác giả cho rằng “đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng”: Vì mỗi người đều có những hoàn cảnh, suy nghĩ và lựa chọn sống khác nhau. Việc phán xét người khác một cách dễ dãi chỉ thể hiện định kiến và thiếu sự thấu hiểu. Hơn nữa, những lời phán xét ấy lặp đi lặp lại đến mức khiến con người cảm thấy mệt mỏi và đánh mất sự tự do trong chính cuộc sống của mình

Câu 4. Quan điểm “Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó” có thể hiểu là: Không chỉ bị người khác đánh giá, mà chính bản thân ta lại chấp nhận sống theo những định kiến áp đặt từ bên ngoài. Khi đó, ta đánh mất bản sắc cá nhân, sống không còn là chính mình, mà để người khác định đoạt cảm xúc, hành vi và lựa chọn cuộc sống của ta. Đó là sự tự đánh mất tự do và giá trị bản thân.

Câu 5. Thông điệp rút ra từ văn bản: Mỗi người có một cách sống và giá trị riêng, vì vậy đừng vội vàng phán xét người khác, cũng đừng để định kiến – của bản thân hay của người khác – chi phối cuộc sống của mình. Hãy dũng cảm sống là chính mình và lắng nghe tiếng nói từ trái tim


Dưới đây là bài làm cho cả hai câu: --- Câu 1. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, khó khăn và thất bại. Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho đã viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói ấy đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí, nghị lực và lòng kiên trì trong hành trình sống của mỗi con người. “Ngã bảy lần” tượng trưng cho những lần vấp ngã, thất bại, tổn thương mà ai cũng phải trải qua. Nhưng “đứng dậy tám lần” lại nhấn mạnh tinh thần không bỏ cuộc, luôn sẵn sàng đứng lên làm lại từ đầu. Bởi lẽ, thành công không nằm ở việc chưa từng thất bại mà ở khả năng vượt qua thất bại để tiếp tục tiến về phía trước. Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương sáng như Thomas Edison, Walt Disney… đã từng thất bại nhiều lần nhưng nhờ lòng kiên trì mà họ đã đạt được thành tựu to lớn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách mạnh mẽ, lạc quan và không nản lòng trước thử thách – bởi chính ý chí vươn lên mới là “bí mật” thật sự của cuộc sống Câu 2. Bài thơ số 33 trong chùm Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi là một minh chứng tiêu biểu cho tâm hồn thanh cao, trí tuệ sâu sắc và lối sống ẩn dật thanh bạch của một bậc đại trí. Về nội dung, bài thơ thể hiện thái độ sống an nhiên, hòa mình với thiên nhiên và sự lựa chọn lý tưởng sống của Nguyễn Trãi trong bối cảnh thời cuộc đầy biến động. Ngay câu mở đầu “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan” cho thấy tác giả chủ động rời xa chốn quan trường, không màng danh lợi. “Lui tới đòi thì miễn phận an” thể hiện quan điểm sống thuận theo thời thế, coi trọng sự an yên trong tâm hồn. Hai câu thơ tiếp theo gợi tả hình ảnh cuộc sống thanh tịnh, hòa hợp với thiên nhiên, khi “hương quế lọt” qua khe cửa và “bóng hoa tan” nơi hiên nhà. Tác giả cũng thể hiện rõ lập trường chính trị và đạo đức của mình khi so sánh mình không có cơ hội giúp nước như “Y, Phó” nhưng vẫn kiên định với đạo Nho như “Khổng, Nhan”. Câu kết là một tuyên ngôn nhân sinh: sống nhàn, thanh cao mới là lối sống quý giá nhất. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm ngặt nhưng giàu cảm xúc. Hình ảnh thơ thanh thoát, giàu chất tượng trưng (cửa, hương quế, bóng hoa…). Ngôn ngữ điển tích sâu sắc thể hiện sự uyên bác và tư tưởng của nhà Nho. Cách đối ý, đối từ chặt chẽ càng làm nổi bật phong thái trầm tĩnh, trí tuệ của tác giả. Tóm lại, bài thơ không chỉ là một bản tuyên ngôn về lối sống nhàn, mà còn là tấm gương soi chiếu nhân cách thanh cao và khí tiết cứng cỏi của Nguyễn Trãi giữa dòng đời nhiều biến động.

Dưới đây là bài làm cho cả hai câu: --- Câu 1. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, khó khăn và thất bại. Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho đã viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói ấy đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí, nghị lực và lòng kiên trì trong hành trình sống của mỗi con người. “Ngã bảy lần” tượng trưng cho những lần vấp ngã, thất bại, tổn thương mà ai cũng phải trải qua. Nhưng “đứng dậy tám lần” lại nhấn mạnh tinh thần không bỏ cuộc, luôn sẵn sàng đứng lên làm lại từ đầu. Bởi lẽ, thành công không nằm ở việc chưa từng thất bại mà ở khả năng vượt qua thất bại để tiếp tục tiến về phía trước. Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương sáng như Thomas Edison, Walt Disney… đã từng thất bại nhiều lần nhưng nhờ lòng kiên trì mà họ đã đạt được thành tựu to lớn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách mạnh mẽ, lạc quan và không nản lòng trước thử thách – bởi chính ý chí vươn lên mới là “bí mật” thật sự của cuộc sống Câu 2. Bài thơ số 33 trong chùm Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi là một minh chứng tiêu biểu cho tâm hồn thanh cao, trí tuệ sâu sắc và lối sống ẩn dật thanh bạch của một bậc đại trí. Về nội dung, bài thơ thể hiện thái độ sống an nhiên, hòa mình với thiên nhiên và sự lựa chọn lý tưởng sống của Nguyễn Trãi trong bối cảnh thời cuộc đầy biến động. Ngay câu mở đầu “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan” cho thấy tác giả chủ động rời xa chốn quan trường, không màng danh lợi. “Lui tới đòi thì miễn phận an” thể hiện quan điểm sống thuận theo thời thế, coi trọng sự an yên trong tâm hồn. Hai câu thơ tiếp theo gợi tả hình ảnh cuộc sống thanh tịnh, hòa hợp với thiên nhiên, khi “hương quế lọt” qua khe cửa và “bóng hoa tan” nơi hiên nhà. Tác giả cũng thể hiện rõ lập trường chính trị và đạo đức của mình khi so sánh mình không có cơ hội giúp nước như “Y, Phó” nhưng vẫn kiên định với đạo Nho như “Khổng, Nhan”. Câu kết là một tuyên ngôn nhân sinh: sống nhàn, thanh cao mới là lối sống quý giá nhất. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm ngặt nhưng giàu cảm xúc. Hình ảnh thơ thanh thoát, giàu chất tượng trưng (cửa, hương quế, bóng hoa…). Ngôn ngữ điển tích sâu sắc thể hiện sự uyên bác và tư tưởng của nhà Nho. Cách đối ý, đối từ chặt chẽ càng làm nổi bật phong thái trầm tĩnh, trí tuệ của tác giả. Tóm lại, bài thơ không chỉ là một bản tuyên ngôn về lối sống nhàn, mà còn là tấm gương soi chiếu nhân cách thanh cao và khí tiết cứng cỏi của Nguyễn Trãi giữa dòng đời nhiều biến động.

Dưới đây là bài làm cho cả hai câu: --- Câu 1. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, khó khăn và thất bại. Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho đã viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói ấy đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí, nghị lực và lòng kiên trì trong hành trình sống của mỗi con người. “Ngã bảy lần” tượng trưng cho những lần vấp ngã, thất bại, tổn thương mà ai cũng phải trải qua. Nhưng “đứng dậy tám lần” lại nhấn mạnh tinh thần không bỏ cuộc, luôn sẵn sàng đứng lên làm lại từ đầu. Bởi lẽ, thành công không nằm ở việc chưa từng thất bại mà ở khả năng vượt qua thất bại để tiếp tục tiến về phía trước. Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương sáng như Thomas Edison, Walt Disney… đã từng thất bại nhiều lần nhưng nhờ lòng kiên trì mà họ đã đạt được thành tựu to lớn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách mạnh mẽ, lạc quan và không nản lòng trước thử thách – bởi chính ý chí vươn lên mới là “bí mật” thật sự của cuộc sống Câu 2. Bài thơ số 33 trong chùm Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi là một minh chứng tiêu biểu cho tâm hồn thanh cao, trí tuệ sâu sắc và lối sống ẩn dật thanh bạch của một bậc đại trí. Về nội dung, bài thơ thể hiện thái độ sống an nhiên, hòa mình với thiên nhiên và sự lựa chọn lý tưởng sống của Nguyễn Trãi trong bối cảnh thời cuộc đầy biến động. Ngay câu mở đầu “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan” cho thấy tác giả chủ động rời xa chốn quan trường, không màng danh lợi. “Lui tới đòi thì miễn phận an” thể hiện quan điểm sống thuận theo thời thế, coi trọng sự an yên trong tâm hồn. Hai câu thơ tiếp theo gợi tả hình ảnh cuộc sống thanh tịnh, hòa hợp với thiên nhiên, khi “hương quế lọt” qua khe cửa và “bóng hoa tan” nơi hiên nhà. Tác giả cũng thể hiện rõ lập trường chính trị và đạo đức của mình khi so sánh mình không có cơ hội giúp nước như “Y, Phó” nhưng vẫn kiên định với đạo Nho như “Khổng, Nhan”. Câu kết là một tuyên ngôn nhân sinh: sống nhàn, thanh cao mới là lối sống quý giá nhất. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm ngặt nhưng giàu cảm xúc. Hình ảnh thơ thanh thoát, giàu chất tượng trưng (cửa, hương quế, bóng hoa…). Ngôn ngữ điển tích sâu sắc thể hiện sự uyên bác và tư tưởng của nhà Nho. Cách đối ý, đối từ chặt chẽ càng làm nổi bật phong thái trầm tĩnh, trí tuệ của tác giả. Tóm lại, bài thơ không chỉ là một bản tuyên ngôn về lối sống nhàn, mà còn là tấm gương soi chiếu nhân cách thanh cao và khí tiết cứng cỏi của Nguyễn Trãi giữa dòng đời nhiều biến động.

Dưới đây là bài làm cho cả hai câu: --- Câu 1. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, khó khăn và thất bại. Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho đã viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói ấy đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí, nghị lực và lòng kiên trì trong hành trình sống của mỗi con người. “Ngã bảy lần” tượng trưng cho những lần vấp ngã, thất bại, tổn thương mà ai cũng phải trải qua. Nhưng “đứng dậy tám lần” lại nhấn mạnh tinh thần không bỏ cuộc, luôn sẵn sàng đứng lên làm lại từ đầu. Bởi lẽ, thành công không nằm ở việc chưa từng thất bại mà ở khả năng vượt qua thất bại để tiếp tục tiến về phía trước. Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương sáng như Thomas Edison, Walt Disney… đã từng thất bại nhiều lần nhưng nhờ lòng kiên trì mà họ đã đạt được thành tựu to lớn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách mạnh mẽ, lạc quan và không nản lòng trước thử thách – bởi chính ý chí vươn lên mới là “bí mật” thật sự của cuộc sống Câu 2. Bài thơ số 33 trong chùm Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi là một minh chứng tiêu biểu cho tâm hồn thanh cao, trí tuệ sâu sắc và lối sống ẩn dật thanh bạch của một bậc đại trí. Về nội dung, bài thơ thể hiện thái độ sống an nhiên, hòa mình với thiên nhiên và sự lựa chọn lý tưởng sống của Nguyễn Trãi trong bối cảnh thời cuộc đầy biến động. Ngay câu mở đầu “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan” cho thấy tác giả chủ động rời xa chốn quan trường, không màng danh lợi. “Lui tới đòi thì miễn phận an” thể hiện quan điểm sống thuận theo thời thế, coi trọng sự an yên trong tâm hồn. Hai câu thơ tiếp theo gợi tả hình ảnh cuộc sống thanh tịnh, hòa hợp với thiên nhiên, khi “hương quế lọt” qua khe cửa và “bóng hoa tan” nơi hiên nhà. Tác giả cũng thể hiện rõ lập trường chính trị và đạo đức của mình khi so sánh mình không có cơ hội giúp nước như “Y, Phó” nhưng vẫn kiên định với đạo Nho như “Khổng, Nhan”. Câu kết là một tuyên ngôn nhân sinh: sống nhàn, thanh cao mới là lối sống quý giá nhất. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm ngặt nhưng giàu cảm xúc. Hình ảnh thơ thanh thoát, giàu chất tượng trưng (cửa, hương quế, bóng hoa…). Ngôn ngữ điển tích sâu sắc thể hiện sự uyên bác và tư tưởng của nhà Nho. Cách đối ý, đối từ chặt chẽ càng làm nổi bật phong thái trầm tĩnh, trí tuệ của tác giả. Tóm lại, bài thơ không chỉ là một bản tuyên ngôn về lối sống nhàn, mà còn là tấm gương soi chiếu nhân cách thanh cao và khí tiết cứng cỏi của Nguyễn Trãi giữa dòng đời nhiều biến động.

Câu 1. Văn bản thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh, báo chí), cụ thể là tin khoa học – cung cấp thông tin mới về phát hiện thiên văn học. Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là thuyết minh Câu 3. Nhận xét về cách đặt nhan đề của tác giả là: Nhan đề "Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái đất" ngắn gọn, rõ ràng, thu hút sự chú ý của người đọc bằng cách nêu bật con số và sự gần gũi của hệ sao so với Trái đất. Nhan đề thể hiện đúng nội dung chính của văn bản Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ là thời gian, địa điểm, nguồn trích dẫn (như “Đài ABC News hôm nay 19.3 dẫn lời…”, “theo báo cáo đăng trên chuyên san The Astrophysical Journal Letters…”, “theo Hạo Nhiên, thanhnien.vn, 19-03-2025”). Tác dụng: Giúp tăng độ tin cậy, tính xác thực, khách quan và thời sự của thông tin được cung cấp trong văn bản Câu 5.Văn bản mang tính chính xác và khách quan cao, vì: Cung cấp thông tin từ các nguồn khoa học uy tín (Đại học Chicago, đài ABC News, chuyên san The Astrophysical Journal Letters). Có trích dẫn ý kiến chuyên gia (nghiên cứu sinh Ritvik Basant). Dẫn chứng cụ thể về công cụ và phương pháp nghiên cứu (Gemini, VLT). => Điều đó cho thấy văn bản được viết dựa trên các nguồn xác thực, đáng tin cậy