

TRƯƠNG MINH QUÂN
Giới thiệu về bản thân



































m = 32
a. 0,24
b. 0,94
(D, (SBM) ) = \(\frac{a\surd6}{6}\)
Huy Cận được mệnh danh là nhà thơ của vạn lí sầu. Trước cách mạng hồn thơ ông mang nỗi sầu bi của thời đại. Tác phẩm Tràng giang là một bài thơ tiêu biểu cho nỗi buồn miên man của nhà thơ trước cuộc đời, trước thời đại. Ẩn sau nỗi buồn ấy còn là lời tâm sự, lòng yêu nước kín đáo.
Nhan đề của bài thơ gồm hai vần “ang” đây là âm mở, gợi nên sự mênh mông, rộng lớn. Không gian dòng sông hiện ra không chỉ là một con sông bình thường mà nó còn là con sông lớn mang tầm vóc vũ trụ. Không chỉ vậy, sử dụng từ Hán Việt còn khiến cho bài thơ mang âm hưởng cổ kính, mang tính khái quát.
Không phải bất cứ tác phẩm nào cũng có lời đề từ, khi đề từ xuất hiện nó thường là một gợi dẫn có ý nghĩa bao quát toàn bộ nội dung tác phẩm. Trước khi bắt đầu bài thơ Tràng giang là lời đề từ do chính Huy Cận sáng tác:
Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài
Câu thơ đề tự gợi ra không gian vũ trụ rộng lớn, bát ngát mở ra cả chiều rộng và chiều cao. Trước không gian ấy con người cảm thấy bơ vơ, lạc lòng, đây cũng là cảm xúc của biết bao thế hệ thi nhân xưa nay. Câu thơ đề từ đã khơi mạch cảm xúc chung của bài thơ.
Bài thơ mở đầu bằng khổ thơ thấm đượm nỗi buồn:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Những con sóng lăn tăn gợn theo chiều gió thổi, không gian ấy hoàn toàn yên tĩnh. Nhưng ở đây không chỉ có thiên nhiên mà ẩn khuất còn có tâm trạng của con người “buồn điệp điệp”, nỗi buồn không còn vô hình mà hữu hình qua từ láy “điệp điệp”. Nỗi buồn ấy tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau, nó tuy nhẹ nhàng mà thấm đẫm, mà lan tỏa trong lòng con người. Nổi bật trong không gian đó là hình ảnh con thuyền xuôi mái, lênh đênh, phiêu dạt. Giữa dòng tràng giang con thuyền trở nên bé nhỏ, đơn côi tựa như chính hình ảnh con người. Từ “xuôi mái” cho thấy trạng thái buông xuôi, phó mặc cho dòng nước xô đẩy. Đó phải chăng cũng chính là tâm trạng của những con người Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Thuyền cứ trôi, cứ về để lại nỗi buồn mênh mang, vô hạn cho người ở lại – nước. Và hiển hiện trong hiện thực đó chính là những cành củi khô đơn độc, lẻ loi. Đảo ngữ “củi” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh sự vô nghĩa, tầm thường, không chỉ vậy đó còn là cảnh củi khô không còn sức sống lạc trôi giữa dòng đời vô định. Hình ảnh “củi khô” ẩn dụ cho những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa sự mênh mông của dòng đời. Đồng thời còn ẩn dụ cho cái tôi lạc loài, bơ vơ trong Thơ mới.
Huy Cận di chuyển điểm nhìn về gần hơn với những bãi, những cồn ở ngay trước mắt mình. “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu” là một hình ảnh rất thực ở bãi giữa sông Hồng, kết hợp với hai từ láy “lơ thơ” “đìu hiu” gợi nên sự thưa thớt, vắng vẻ, hiu quạnh. Trong không gian ấy tác giả cố gắng đi tìm hơi ấm cuộc sống, là tiếng chợ xa, nhưng “đâu” có thể tìm thấy được, không gian là sự tĩnh lặng đến tuyệt đối. Nỗi buồn càng được tô đậm hơn nữa khi không gian được mở rộng đến vô cùng, nắng xuống chiều lên, sông dài – trời rộng, kết hợp với từ “sâu chót vót” đã mở rộng không gian ra cả ba phía: rộng, cao, sâu. Khắc họa nỗi cô đơn, sự nhỏ bé đến cực điểm của con người trước không gian vũ trụ.
Đôi mắt Huy Cận lại tìm kiếm, lại hướng ra vô cùng và thu lại chỉ có:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cần gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Những cánh bèo lênh đênh, vô định nối tiếp nhau chảy trôi, sự chảy trôi không mục đích, không phương hướng, cũng như những kiếp người nhỏ bé, đơn độc lúc bấy giờ. Không gian sông nước mênh mông không có lấy một chuyến đò qua sông. Đò ấy không đơn thuần là phương tiện trung chuyển con người mà nó còn là phương tiện kết nối tình cảm. Nhưng tất cả đã bị phủ định một cách tuyệt đối: không một, không cầu, không còn một chút tình đời, tình người nào còn tồn tại ở đây nữa.
Khổ thơ cuối cùng vẽ ra bức tranh không gian nhiều tầng bậc, ông hướng mắt lên cao: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa”. Bầu trời với những đám mây lớn được phản chiếu dưới ánh mặt trời trở nên hùng vĩ, tráng lệ hơn. Động từ “đùn” cho thấy những đám mây ùn ùn kéo về, dựng lên những dãy núi tráng lệ. Và giữa lưng chừng trời là cánh chim nhỏ bé, đơn độc, cảm tưởng như nó đã bị không gian nuốt chửng. Trước cảnh thiên nhiên cô tịch, lặng lẽ, nỗi nhớ quê hương trong ông bỗng da diết, cồn cào:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Câu thơ làm ta bất giác nhớ đến câu thơ của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Cũng đều là nỗi bi ai, là nỗi nhớ quê khắc khoải nhưng Huy Cận đã có cách thể hiện thật mới, thật lạ. Lòng quê “dợn dợn” tức cứ tăng, cứ mạnh mãi lên, dường như sóng lòng đang trải ra cùng sóng nước. Nỗi nhớ quê hương luôn thường trực, dai dẳng. Đây cũng là biểu hiện kín đáo của lòng yêu nước.
Tác phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên mênh mông và quạnh hiu, hoang vắng. Qua đó còn cho ta thấy một cái tôi bơ vơ lạc lõng, một nỗi buồn vô tận giữa đất trời. Nhưng đồng thời bài thơ cùng thể hiện lòng yêu nước kín đáo mà vô cùng sâu lắng.
Trong cuộc sống, con người luôn khao khát những điều đẹp đẽ và tinh tế để nuôi dưỡng tâm hồn giữa bao lo toan thường nhật. Nhưng đôi khi, thực tại khắc nghiệt lại phũ phàng dập tắt những giấc mơ nhỏ bé, để lại trong lòng ta nỗi bẽ bàng và trăn trở. Qua Ba đồng một mớ mộng mơ, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa hình ảnh nhân vật “chị” một người phụ nữ mang trong mình sự nhạy cảm và mộng mơ, nhưng phải đối mặt với những thực tế trần trụi của cuộc sống. Nhân vật “chị” chính là tấm gương phản chiếu sự giằng xé giữa khát khao tinh thần và áp lực đời thường, khiến ta không khỏi xúc động và suy ngẫm. Chị trân trọng từng ánh mắt, cử chỉ của thằng bé tật nguyền, hy vọng tìm thấy sự gắn bó và yêu thương, nhưng cuối cùng, lời nói “tiền” bật ra từ nó đã khiến chị đau lòng nhận ra sự phũ phàng của thực tại. Cuộc đời chị là chuỗi ngày đối mặt với mâu thuẫn giữa mộng mơ và đời thực. Những món quà tinh thần chị mang về cho gia đình như bình hoa, truyện tranh đều bị bỏ qua, nhường chỗ cho những nhu cầu vật chất thiết thực như đường, xà bông, nước mắm. Dẫu vậy, chị vẫn không ngừng nuôi dưỡng những giấc mơ, cố gắng giữ lại chút lãng mạn nhỏ bé để bám víu vào cuộc sống. Nhân vật “chị” là biểu tượng cho những con người luôn giằng xé giữa khao khát tinh thần và áp lực đời thường, nhưng vẫn không ngừng hy vọng, không ngừng yêu thương, dù đôi khi phải chấp nhận sự cay đắng.
Hiện tượng phá vỡ ngôn ngữ thông thường trong cụm từ "ánh mắt sáng quắc" tạo ra sự mạnh mẽ, hình ảnh đặc biệt và độc đáo trong câu văn. Dưới đây là phân tích về tác dụng của hiện tượng này:
1. Tạo ra hình ảnh sắc nét và gây ấn tượng mạnh mẽ: Thông thường, "ánh mắt sáng" chỉ là cách diễn đạt thông thường về ánh sáng phát ra từ mắt. Tuy nhiên, khi kết hợp với từ "quắc", nó tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ và đặc biệt hơn. "Quắc" thường được sử dụng để miêu tả sự sáng chói hoặc mạnh mẽ, tạo ra cảm giác nhấn mạnh và gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc.
2. Tạo ra một hình ảnh hấp dẫn và bí ẩn: Việc sử dụng ngôn ngữ không thông thường tạo ra một hình ảnh độc đáo và hấp dẫn. Cụm từ "ánh mắt sáng quắc" có thể gợi lên hình ảnh của một đối tượng bí ẩn, hoặc tạo ra một cảm giác kỳ bí và huyền bí. Điều này giúp tạo ra một không khí huyền bí và kích thích sự tò mò của độc giả.
3. Tạo ra sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ và cảm xúc: Việc sử dụng từ ngữ không thông thường như "quắc" có thể kích thích sự phản ứng cảm xúc của độc giả, khiến họ cảm thấy bất ngờ hoặc thích thú. Điều này tạo ra một trải nghiệm đọc độc đáo và đặc biệt, giúp câu chuyện trở nên sống động và hấp dẫn hơn
Như vậy, việc sử dụng ngôn ngữ không thông thường trong cụm từ "ánh mắt sáng quắc" tạo ra một sự tươi mới và sức hút đặc biệt trong văn bản, góp phần làm nổi bật hình ảnh và cảm xúc trong tâm trí của độc giả.
Trong bài đọc, chi tiết mà em ấn tượng nhất là cảnh một đứa trẻ khuyết tật, với ánh mắt sáng quắc, nắm chặt tay người phụ nữ chính là điều mà em không thể quên.
1.Ấn tượng về sự đặc biệt và rõ nét của hình ảnh: Việc sử dụng từ ngữ mạnh mẽ và mô tả chi tiết đã tạo ra một hình ảnh đặc biệt và rõ ràng trong tâm trí của em. Ánh mắt sáng quắc của đứa trẻ không chỉ là một hình ảnh đẹp mắt mà còn là biểu tượng cho sự quyết tâm và niềm hy vọng của một tâm hồn trong tình trạng khó khăn.
2.Tạo ra sự đồng cảm và chia sẻ: Chi tiết này tạo ra một cảm giác sâu sắc về sự đau lòng và đồng cảm với những người gặp khó khăn trong cuộc sống. Ánh mắt sáng quắc của đứa trẻ là biểu tượng cho niềm hy vọng và ý chí sống, làm cho em cảm nhận được tình cảm chân thành và lòng nhân ái.
3.Sự hiểu biết và chấp nhận: Phụ nữ trong truyện đã không chỉ nhìn nhận và chấp nhận đứa trẻ với tình trạng của mình mà còn tìm cách gần gũi và chia sẻ tình thương. Điều này cho thấy sự đồng cảm và lòng nhân ái của con người, và gợi lên sự đáng quý của mỗi cá nhân trong xã hội.
Với những lí giải trên, chi tiết về ánh mắt sáng quắc của đứa trẻ đã tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và gây cảm xúc sâu sắc trong em, làm cho em hiểu được giá trị của sự đồng cảm và lòng nhân ái trong cuộc sống.