K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

 Câu 1 trang 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2: 

- Thời gian: đời Hùng Vương thứ sáu.

- Không gian: làng Phù Đổng, đất nước.

- Hoàn cảnh: đất nước đang chìm trong chiến tranh.

Câu 2 trang 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2: 

Mẹ Gióng chỉ vì ướm thử vào vết chân lạ mà mang thai Gióng, sau 12 tháng thì sinh ra. Đã 3 tuổi mà chẳng biết cười, biết nói gì cả, đặt đâu nằm đấy. 

Câu 3 trang 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2: 

a. Ý thức đánh giặc cứu nước, cứu dân của Thánh Gióng.

b. Sự đoàn kết của nhân dân trong công cuộc bảo vệ đất nước.

c. Ước mơ của nhân dân về một người anh hùng có sức mạnh vô địch, cường tráng, oai phong đủ sức đánh tan mọi kẻ thù.

d. Ca ngợi thành tựu văn minh kim loại của người Việt cổ ở thời đại Hùng Vương.

e. Thái độ ca ngợi, tôn vinh của nhân dân đối với người anh hùng.

Câu 4 trang 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2: 

- Chiến công phi thường mà Thánh Gióng đã làm nên là đánh tan quân giặc.

- Ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng:

+ Tiêu biểu cho người anh hùng đánh giặc giữ nước.

+ Mang sức mạnh của cả cộng đồng ở buổi đầu dựng nước.

Câu 5 trang 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2: 

Chủ đề đánh giặc cứu nước.

Câu 6 trang 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2: 

Lời kể trong truyện Thánh Gióng hàm ý rằng câu chuyện đã thực sự xảy ra trong quá khứ: Hiện nay, vẫn còn đền thờ…nay gọi làng Cháy.

→ Lời kể về những dấu tích còn lại của người anh hùng để nhân dân tin rằng Thánh Gióng có thật và tự hào về sức mạnh thần kì của dân tộc.

Hình ảnh Thánh Gióng sử dụng tre làm vũ khí thể hiện tinh thần sáng tạo, linh hoạt và ý chí kiên cường, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. 

7 tháng 9 2016

a. Tự sự 

b. Miêu tả
 c. Nghị luận 
d. Biểu cảm
 e. Thuyết minh

 
7 tháng 9 2016

kcjTrần Ngọc Tiến

miêu ta ,tự sự, biểu cảm ,thuyết minh ,nghị luận,

hanh chinh công khai

15 tháng 5 2020

Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau:

- Tự sự: là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

Ví dụ:

        “Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”

(Tấm Cám)

- Miêu tả: là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

Ví dụ:

        “Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát

(Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)

- Biểu cảm: là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác. Phương thức biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh.

Ví dụ: 

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

(Ca dao)

- Thuyết minh: là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

Ví dụ:   

          “Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn của hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải…”

(Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000)

- Nghị luận: là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt,  thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình.

Ví dụ:

        “Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai

(Tài liệu hướng dẫn đội viên)

Hành chính – công vụ: là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…]

Ví dụ: 

            "Điều 5.- Xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

          Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà sách nhiễu nhân dân, dung túng, bao che cho cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt quá thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật."

Nguồn : gg