Qua câu chuyện về chú chó Hachiko, hãy nêu suy nghĩ của em về tình bạn và lòng trung thành trong cuộc sống.
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

mk lm k chắc đúng, sai đâu ib mk nhé
DKXD: \(x\ge-\frac{1}{2};\)\(x\ne0\)
Dat: \(\sqrt{2x+1}=a\) \(\left(a\ge0;a\ne1\right)\)
Khi đó bpt đã cho trở thành:
\(\frac{a^2-1}{a-1}>a^2+1\)
<=> \(a+1>a^2+1\)
<=> \(a\left(1-a\right)>0\)
<=> \(1-a>0\)
<=> \(a< 1\)
Khi đó: \(\sqrt{2x+1}< 1\)
<=> \(2x+1< 1\)
<=> \(x< 0\)
Vay: \(-\frac{1}{2}\le x< 0\)


Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân và quốc phòng toàn dân, ngày 22 tháng 12, để chúng tôi hiểu thêm về lịch sử chiến đấu của dân tộc, nhà trường đã mời đoàn cựu chiến binh về thăm và trò chuyện. Trong đoàn đại biểu đó, tôi bắt gặp một người lính trên ngực gắn nhiều huân chương và trong buổi lễ chú đã giới thiệu mình là người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Cuối buổi, tôi đã lân la đến gặp và có cuộc nói chuyện thú vị với chú.
Các bạn có lẽ không thể hình dung được, người chiến sĩ lái xe trẻ trung, sôi nổi năm xưa giờ đĩnh đạc, oai nghiêm trong bộ quân phục mới. Chú có giọng nói khoẻ, ấm áp và tiếng cười âm vang. Cùng tháng năm, khuôn mặt tuy đã già dặn nhưng vẫn có vẻ hóm hỉnh, yêu đời của người lính. Qua trò chuyện, có thể thấy chú là người rất vui tính, nhiệt tình, đặc biệt là khi chú kể cho tôi về cuộc đời người lính trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy. Chú kể với tôi, năm 1969 là năm chú thường cùng các anh em trong tiểu đội lái xe qua đây, cũng là năm mà Mĩ đánh phá rất ác liệt trên tuyến đường này. Bởi đường Trường Sơn, tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử là tuyến đường quan trọng nhất, là đầu mối giao thông, liên lạc hai miền Bắc - Nam
Chúng quyết phá cho bằng được. Chúng thả hàng ngàn tấn bom, cày xới những khung đường, đốt cháy những khu rừng. Hàng nghìn cây đã đổ, muông thú mất chỗ ở. Đã có nhiều người ngã xuống để bảo vệ con đường. Tuy Mĩ đánh phá ác liệt thật, nhưng những đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm nối đuôi nhau trên con đường, đem theo bao lương thực, vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam. Kể một lúc, chú lại mỉm cười và nói với tôi:
- Cháu thấy đấy, cuộc chiến đấu của các chú trải qua biết bao gian khổ, khó khăn. Những năm tháng ác liệt đó đã khắc hoạ cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc ta oanh liệt hào hùng. Trên tuyến đường Trường Sơn giặc Mĩ đánh phá vô cùng ác liệt; bom Mĩ cày xới đất đai, phá hỏng những con đường, đốt cháy những cánh rừng, phá huỷ biết bao nhiêu những rừng cây là lá chắn của ta. Nhưng không vì "bom rơi đạn lạc" như vậy mà các chú lùi ý chí, các đoàn xe tải ngày đêm nối đuôi nhau ra tiền tuyến, các chú còn phải đi trong bóng đêm theo sự hướng dẫn của các cô thanh niên xung phong để tiến về phía trước trong màn đêm sâu thẳm của rừng hoang. Có hôm trời tối Mĩ phát hiện ra, ta chuyên chở qua rừng, bọn chúng đã thả bom để không cho ta qua, phá vỡ chiếc cầu nối Bắc - Nam. Nhưng đặc biệt hơn cả là đoàn xe vận tải không có kính vì bị "bom giật bom rung kính vỡ đi rồi". Bom đạn trải xuống hàng loạt khiến nào là kính, nào là đèn vỡ, mui xe bẹp, nào là thùng xe xước... Không có đèn vượt qua dãy Trường Sơn đầy nguy hiểm như thế mà các chú vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh Mĩ, chạy dọc Trường Sơn. Chẳng khác nào "châu chấu đá xe", Mĩ với bao nhiêu thiết bị tối tân đế đánh ta nhưng chúng ta đã vượt qua những gian khổ để đánh chúng. Chú còn nhớ trên các cabin những chiếc xe như thế, bọn chú không cỏ vật gì để che chắn cả, gió táp vào mặt mang theo bao nhiêu là bụi. Gió bụi của Trường Sơn làm mắt cay xè, tóc bạc trắng như người già còn mặt thì lấm lem như thằng hề vậy, thế mà không ai cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc hút ngang nhiên, ai nấy nhìn nhau rồi cười giòn giã vang khắp dãy Trường Sơn.
Với những ngày nắng là như vậy nhưng đến lúc mưa thì các chú còn khổ hơn nhiều, Trường Sơn mỗi lúc mưa là mưa như trút nước cộng thêm vào đó là những giọt sương muối ở rừng hòa vào dòng nước mưa phả vào da thịt của các chú tê rát cả da mặt, áo thì ướt hết. Lắm lúc lạnh quá các chú phải tì sát vào nhau mà nghĩ thầm: "Vì bảo vệ Tổ quốc phải vượt qua được thiên nhiên thì mới là những người lính của bộ đội Cụ Hồ". Vì những lời nhủ thầm đó mà chú và các đồng đội mới trải qua được sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thiên nhiên trong thời kỳ đó lắm lúc cũng là kẻ địch của mình đấy cháu ạ. Thế nhưng các chú vẫn cầm vô lăng lái một cách hăng hái hàng trăm cây số nữa có đâu cần thay người lái, gió lùa rồi quần áo lại khô thôi.
Cháu biết không: Người lính Trường Sơn năm xưa giản dị, đơn sơ lắm. Để trải qua những ngày tháng ấy các chú phải vượt qua biết bao nhiêu gian lao vất vả mà đặc biệt là phải biết vượt qua chính mình, có ý chí chiến đấu cao. Vượt qua những khó khăn như thế con người mới hiểu được sức chịu đựng của mình thật kỳ diệu. Xe không kính cũng là một thú vị vì ta có thể nhìn cả bầu trời, không gian rộng lớn khoáng đạt như ùa vào buồng lái, những ngôi sao đều nhìn thấy và những cánh chim chạy thẳng vào tim. Tâm hồn người chiến sĩ vui phơi phới, thật đúng là:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ,
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
Trên con đường Trường Sơn, mỗi khi các chú gặp nhau thì thông qua cửa kính bắt tay. Đó là sự động viên, truyền thêm sức mạnh cho nhau để vượt qua khó khản. Mỗi khi giữa rừng, bên bếp Hoàng cầm sưởi ấm bao trái tim người chiến sĩ, các chú nghĩ từng chung bát chung đũa tức là một gia đình, là người trong một nhà rồi đấy cháu ạ. Một cử chỉ nhỏ của người chiến sĩ cũng làm cho họ gắn bó thêm, xiết chặt tình đồng đội.
Được nghe chú kể những vất vả ấy tôi thật khâm phục hơn tình đồng chí đồng đội, lòng dũng cảm hiên ngang của người chiến sĩ. Tôi thầm mơ ước trên thế giới không còn chiến tranh để cuộc sống mãi thanh bình.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/tuong-tuong-minh-gap-lai-nguoi-linh-lai-xe-trong-bai-tho-ve-tieu-doi-xe-khong-kinh-cua-pham-tien-duat-em-hay-viet-bai-van-ke-ve-cuoc-gap-go-va-tro-chuyen-do-c36a1737.html#ixzz5X7zbfDBd

Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân và quốc phòng toàn dân, ngày 22 tháng 12, để chúng tôi hiểu thêm về lịch sử chiến đấu của dân tộc, nhà trường đã mời đoàn cựu chiến binh về thăm và trò chuyện. Trong đoàn đại biểu đó, tôi bắt gặp một người lính trên ngực gắn nhiều huân chương và trong buổi lễ chú đã giới thiệu mình là người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Cuối buổi, tôi đã lân la đến gặp và có cuộc nói chuyện thú vị với chú.
Các bạn có lẽ không thể hình dung được, người chiến sĩ lái xe trẻ trung, sôi nổi năm xưa giờ đĩnh đạc, oai nghiêm trong bộ quân phục mới. Chú có giọng nói khoẻ, ấm áp và tiếng cười âm vang. Cùng tháng năm, khuôn mặt tuy đã già dặn nhưng vẫn có vẻ hóm hỉnh, yêu đời của người lính. Qua trò chuyện, có thể thấy chú là người rất vui tính, nhiệt tình, đặc biệt là khi chú kể cho tôi về cuộc đời người lính trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy. Chú kể với tôi, năm 1969 là năm chú thường cùng các anh em trong tiểu đội lái xe qua đây, cũng là năm mà Mĩ đánh phá rất ác liệt trên tuyến đường này. Bởi đường Trường Sơn, tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử là tuyến đường quan trọng nhất, là đầu mối giao thông, liên lạc hai miền Bắc - Nam
Chúng quyết phá cho bằng được. Chúng thả hàng ngàn tấn bom, cày xới những khung đường, đốt cháy những khu rừng. Hàng nghìn cây đã đổ, muông thú mất chỗ ở. Đã có nhiều người ngã xuống để bảo vệ con đường. Tuy Mĩ đánh phá ác liệt thật, nhưng những đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm nối đuôi nhau trên con đường, đem theo bao lương thực, vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam. Kể một lúc, chú lại mỉm cười và nói với tôi:
- Cháu thấy đấy, cuộc chiến đấu của các chú trải qua biết bao gian khổ, khó khăn. Những năm tháng ác liệt đó đã khắc hoạ cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc ta oanh liệt hào hùng. Trên tuyến đường Trường Sơn giặc Mĩ đánh phá vô cùng ác liệt; bom Mĩ cày xới đất đai, phá hỏng những con đường, đốt cháy những cánh rừng, phá huỷ biết bao nhiêu những rừng cây là lá chắn của ta. Nhưng không vì "bom rơi đạn lạc" như vậy mà các chú lùi ý chí, các đoàn xe tải ngày đêm nối đuôi nhau ra tiền tuyến, các chú còn phải đi trong bóng đêm theo sự hướng dẫn của các cô thanh niên xung phong để tiến về phía trước trong màn đêm sâu thẳm của rừng hoang. Có hôm trời tối Mĩ phát hiện ra, ta chuyên chở qua rừng, bọn chúng đã thả bom để không cho ta qua, phá vỡ chiếc cầu nối Bắc - Nam. Nhưng đặc biệt hơn cả là đoàn xe vận tải không có kính vì bị "bom giật bom rung kính vỡ đi rồi". Bom đạn trải xuống hàng loạt khiến nào là kính, nào là đèn vỡ, mui xe bẹp, nào là thùng xe xước... Không có đèn vượt qua dãy Trường Sơn đầy nguy hiểm như thế mà các chú vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh Mĩ, chạy dọc Trường Sơn. Chẳng khác nào "châu chấu đá xe", Mĩ với bao nhiêu thiết bị tối tân đế đánh ta nhưng chúng ta đã vượt qua những gian khổ để đánh chúng. Chú còn nhớ trên các cabin những chiếc xe như thế, bọn chú không cỏ vật gì để che chắn cả, gió táp vào mặt mang theo bao nhiêu là bụi. Gió bụi của Trường Sơn làm mắt cay xè, tóc bạc trắng như người già còn mặt thì lấm lem như thằng hề vậy, thế mà không ai cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc hút ngang nhiên, ai nấy nhìn nhau rồi cười giòn giã vang khắp dãy Trường Sơn.
Với những ngày nắng là như vậy nhưng đến lúc mưa thì các chú còn khổ hơn nhiều, Trường Sơn mỗi lúc mưa là mưa như trút nước cộng thêm vào đó là những giọt sương muối ở rừng hòa vào dòng nước mưa phả vào da thịt của các chú tê rát cả da mặt, áo thì ướt hết. Lắm lúc lạnh quá các chú phải tì sát vào nhau mà nghĩ thầm: "Vì bảo vệ Tổ quốc phải vượt qua được thiên nhiên thì mới là những người lính của bộ đội Cụ Hồ". Vì những lời nhủ thầm đó mà chú và các đồng đội mới trải qua được sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thiên nhiên trong thời kỳ đó lắm lúc cũng là kẻ địch của mình đấy cháu ạ. Thế nhưng các chú vẫn cầm vô lăng lái một cách hăng hái hàng trăm cây số nữa có đâu cần thay người lái, gió lùa rồi quần áo lại khô thôi.
Cháu biết không: Người lính Trường Sơn năm xưa giản dị, đơn sơ lắm. Để trải qua những ngày tháng ấy các chú phải vượt qua biết bao nhiêu gian lao vất vả mà đặc biệt là phải biết vượt qua chính mình, có ý chí chiến đấu cao. Vượt qua những khó khăn như thế con người mới hiểu được sức chịu đựng của mình thật kỳ diệu. Xe không kính cũng là một thú vị vì ta có thể nhìn cả bầu trời, không gian rộng lớn khoáng đạt như ùa vào buồng lái, những ngôi sao đều nhìn thấy và những cánh chim chạy thẳng vào tim. Tâm hồn người chiến sĩ vui phơi phới, thật đúng là:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ,
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
Trên con đường Trường Sơn, mỗi khi các chú gặp nhau thì thông qua cửa kính bắt tay. Đó là sự động viên, truyền thêm sức mạnh cho nhau để vượt qua khó khản. Mỗi khi giữa rừng, bên bếp Hoàng cầm sưởi ấm bao trái tim người chiến sĩ, các chú nghĩ từng chung bát chung đũa tức là một gia đình, là người trong một nhà rồi đấy cháu ạ. Một cử chỉ nhỏ của người chiến sĩ cũng làm cho họ gắn bó thêm, xiết chặt tình đồng đội.
Được nghe chú kể những vất vả ấy tôi thật khâm phục hơn tình đồng chí đồng đội, lòng dũng cảm hiên ngang của người chiến sĩ. Tôi thầm mơ ước trên thế giới không còn chiến tranh để cuộc sống mãi thanh bình.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/tuong-tuong-minh-gap-lai-nguoi-linh-lai-xe-trong-bai-tho-ve-tieu-doi-xe-khong-kinh-cua-pham-tien-duat-em-hay-viet-bai-van-ke-ve-cuoc-gap-go-va-tro-chuyen-do-c36a1737.html#ixzz5X7zbfDBd
Bộ phim Hachi: A Dog's Tale được xây dựng trên câu chuyện về cuộc đời của một chú chó giống Akita tên là Hachi và sự trung thành của Hachi đối với người chủ của mình – giáo sư Hidesaburo Ueno. Câu chuyện về chú đã được người Nhật xem như biểu tượng về tình yêu thương. Câu chuyện của Hachi không chỉ nổi tiếng ở Nhật Bản mà còn trên thế giới nên nhiều năm sau khi chú mất, các nhà làm phim Mỹ đã quyết định sẽ viết nên câu chuyện của Hachi thành một bộ phim như một hình thức tưởng nhớ đến chú và cho mọi người biết rằng: “Đôi khi tình yêu không chỉ xuất phát từ con người, cũng không cần bất cứ lời nói nào mà ta vẫn cảm nhận được rằng ta cũng được yêu thương chỉ cần bằng trái tim.”
Đây là một trong những bộ phim lấy đi nhiều nước mắt của người xem nhất mà nhân vật chính không phải là con người, nó không biết nói, nó cũng chẳng khóc nhưng bộ phim đã tận dụng gần như triệt để các khía cạnh khác nhau để người xem có thể đồng cảm với mọi nhân vật. Một bộ phim tưởng chừng như vô cùng đơn giản, chỉ xoay quanh một vài khung cảnh, giới hạn bởi tuyến nhân vật và lời thoại thế nhưng lại không hề nhàm chán và rời rạc. Bộ phim đã thành công ngoài mong đợi khi không chỉ đưa đến người xem câu chuyện của Hachi mà còn mà còn nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Khi xem phim, chúng ta chỉ chú ý đến Hachi và sự trung thành của chú mà không để tâm đến một điều cũng quan trọng không kém, đó là tình thương gia đình. Bộ phim đã khắc họa chân dung của giáo sư Parker là một người đàn ông hiền lành, tràn đầy tình yêu thương với mọi người. Ông yêu thương vợ con, cuộc sống của ông chỉ xoay quanh sự đam mê trong công việc, âm nhạc và gia đình cho đến khi có thêm Hachi xuất hiện trong đời ông. Ông luôn dịu dàng và nâng niu vợ của mình, dẫu cho bà có khó chịu, nhăn nhó khi ông mang Hachi về nhà, ông vẫn nhẹ nhàng dỗ dành vợ, tỉ tê ngọt ngào với bà mỗi ngày để bà đồng ý chấp nhận Hachi. Ông yêu thương con gái của mình rất nhiều. Dù cho các phân cảnh của hai cha con rất ít nhưng ta vẫn dễ dàng nhận ra khi hai người trò chuyện với nhau một cách vui vẻ như hai người bạn. Khi cô dẫn người yêu về ra mắt gia đình, ông cũng vui vẻ và đón nhận anh. Khi nghe tin cô có em bé ông bất ngờ đến đập đầu vào trần nhà và vui mừng ôm lấy cô. Và với Hachi, ông không coi nó là một con vật, một con thú cưng, ông đối xử với Hachi như một đứa trẻ, như đứa con của mình. Qua một số chi tiết của phim ta có thể hiểu được rằng ông bà Wilson có một đứa con trai nhưng có lẽ cậu đã qua đời và các thành viên trong gia đình rất hiếm nhắc đến cậu, nhất là trước mặt Parker. Từ khi gặp Hachi ông đã xem chú như một phần của mình, ông để chú đắp mềnh của mình, để chú ăn cùng mình, để chú ngủ cùng mình và để chú chơi đồ chơi của con trai của mình. Mỗi khi bà Cate nổi giận với Hachi, ông đều vuốt giận và che chở cho Hachi như che chở một đứa trẻ khờ dại. Ta có thể nhìn thấy ở ngôi nhà ấy, gia đình Wilson là một gia đình hạnh phúc và yêu thương nhau.
Hachiko - Chú chó đợi chờ là cuốn sách viết về chú chó nổi tiếng Hachiko và tình cảm sâu sắc của chú dành cho người chủ đã mất trong suốt mười năm, cho đến khi chú cũng trút hơi thở cuối cùng.
Chú chó Hachiko sống ở Tokyo cùng với gia đình giáo sư Eisaburo Ueno. Hàng ngày, vào buổi sáng Hachiko theo chân giáo sư đến nhà ga tiễn ông lên tàu đi làm. Buổi chiều ngày nào cũng vậy, nắng cũng như mưa, vào lúc 5 giờ chiều, Hachiko lại ra nhà ga đợi giáo sư về.
Rồi đến một ngày Hachiko tiễn giáo sư lên tàu đi làm và ông không bao giờ trở về nữa vì một cơn đột quỵ. Nhưng chú chó vẫn chờ đợi, vẫn có mặt hàng ngày lúc 5 giờ tại nhà ga. Dù bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua, dù bao nhiêu chuyến tàu đã cập bến, Hachiko vẫn không hề nản lòng, chú vẫn đứng đó, đợi và đợi.Con đường từ nhà đến ga, từ ga về nhà là khoảng thời gian vui vẻ của Hachiko. Giáo sư Eisaburo Ueno luôn ân cần trò chuyện, chỉ bảo cho chú chó những điều mới lạ hay kể cho Hachiko nghe những tâm tư của ông.
"Trong thời khác đó, rất nhiều hành khách lại gần Hachiko, gãi đầu nó hay cười với nó, nhưng nó vẫn nhìn đăm đăm vào cánh cửa lúc mở ra, lúc đóng vào, phát ra những tiếng động của kim loại mỗi khi có người đi qua. Nó chờ nghe tiếng gõ của cây ba toong của giáo sư Eisaburo Ueno.
Có một ngày nào đó, ông đã nói với nó rằng tất cả những nghệ nhân đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật cắm hoa ikebana đều có chung một đặc điểm, đó là tất cả những gì họ thấy chỉ là một bông hoa và tất cả những gì họ mơ đến là trăng. Giáo sư, như mọi người đều biết, không bao giờ nói sai cả. Tuy Hachiko không có đủ kiên nhẫn để cắm hoa ikebana, nó cũng mơ đến một vầng trăng".
Sau cái chết của giáo sư, gia đình ông chuyển nhà và Hachiko cũng bị đem cho. Nhưng nó thường xuyên cắn đứt dây buộc, tìm mọi cách về nhà cũ. Và chờ giáo sư tại nhà ga Shibuya vào đúng 5 giờ chiều như trước đây. Kể từ đó, Hachiko trở thành một con chó hoang không nhà, không ai chăm sóc sống nhờ vào chút đồ ăn bố thí.
Rồi ngày chuyển thành tháng, tháng chuyển thành mùa, mùa trở thành năm. Đã 9 mùa đông trôi qua, vật đổi sao dời, lòng người cũng đổi thay, chỉ có lòng thương nhớ chủ của Hachiko là không hề phai nhạt. Năm tháng đã lấy đi sức lực của nó, từ một chú chó nhỏ nghịch ngợm giờ nó đã trở thành một con chó già yếu với bộ lông tả tơi xơ xác, bàn chân đau nhức vì thấp khớp.
Bất chấp tất cả những điều đó, mỗi buổi chiều nó luôn xuất hiện vào cùng một thời điểm, cùng một vị trí và nằm tại đó cho đến khi chuyến tàu cuối cùng lăn bánh trong đêm. Ngày nắng cũng như ngày mưa, bão tuyết hay mưa rào, Hachiko vẫn kiên gan chờ đợi.
Một buổi sáng lạnh tháng 3/1935, những hành khách đầu tiên đến ga Shibuya phát hiện Hachiko nằm bất động, lạnh ngắt trên sân ga trơ trọi. Có lẽ cuối cùng, Hachiko đã có thể ở bên cạnh ông giáo sư mãi mãi...
Hachiko đã trở thành một hình tượng nổi tiếng về lòng trung thành tại đất nước Nhật Bản và bức tượng của Hachiko đã được đặt trang trọng ở sân ga Shibuya nơi chú đã đợi chủ nhân suốt mười năm.
Hachiko đã vượt qua biên giới nước Nhật để trở thành một trong những chú chó nổi tiếng nhất thế giới, biểu tượng về tình bạn chung thủy nhất. Câu chuyện của Hachiko được kể lại với lời văn sâu lắng của nhà văn Luis Prats cùng hình minh họa màu nước ấn tượng của Zuzanna Celej sẽ làm lay động trái tim và truyền cảm hứng cho bạn theo đúng cách nó đã làm rung động hàng triệu con tim trên thế giới.