K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Lực lưỡng cực-lưỡng cực là một loại lực liên phân tử (IMF) xảy ra giữa các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu. Dưới đây là phần giải thích chi tiết:

1. Lưỡng cực là gì?

  • Lưỡng cực xảy ra khi có sự phân bố không đồng đều của điện tích trong một phân tử. Điều này dẫn đến một đầu của phân tử mang điện tích dương một phần (δ+) và đầu kia mang điện tích âm một phần (δ-).
  • Các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu là những phân tử có sự khác biệt về độ âm điện giữa các nguyên tử cấu thành, và hình dạng phân tử không đối xứng. Ví dụ: HCl, H₂O.

2. Lực lưỡng cực-lưỡng cực hoạt động như thế nào?

  • Các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu hút nhau do sự tương tác giữa đầu dương của một phân tử và đầu âm của phân tử kia.
  • Sự sắp xếp này làm giảm năng lượng tiềm năng giữa các phân tử và làm tăng tính ổn định của hệ thống.
  • Độ mạnh của lực lưỡng cực-lưỡng cực phụ thuộc vào độ lớn của lưỡng cực và khoảng cách giữa các phân tử.

3. Ảnh hưởng đến tính chất vật lý:

  • Lực lưỡng cực-lưỡng cực ảnh hưởng đến các tính chất vật lý như nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy.
  • Các chất có lực lưỡng cực-lưỡng cực mạnh hơn thường có nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy cao hơn so với các chất chỉ có lực phân tán London.

4. So sánh với các IMF khác:

  • Lực phân tán London (Lực Van der Waals):
    • Có mặt trong tất cả các phân tử, kể cả phân tử không cực.
    • Là kết quả của sự dao động tạm thời của đám mây electron, tạo ra lưỡng cực tức thời.
    • Yếu hơn lực lưỡng cực-lưỡng cực.
  • Liên kết hydro:
    • Là một loại lực lưỡng cực-lưỡng cực đặc biệt mạnh.
    • Xảy ra khi hydro liên kết với các nguyên tử có độ âm điện cao như oxy (O), nitơ (N) hoặc flo (F).
    • Mạnh hơn nhiều so với lực lưỡng cực-lưỡng cực thông thường.

Tóm lại: Lực lưỡng cực-lưỡng cực là một lực hút tĩnh điện giữa các phân tử có lưỡng cực vĩnh cửu, góp phần vào các tính chất vật lý của chất.

C:H:O

40/12 : 6,67/1 : 53,33/16

1:2:1=>GĐGN:ch2o

=>CTPT:(ch2o)n=180->n=6(c6h12o6)

16 tháng 12 2024
  • 1 Chỉ vẽ các nguyên tử carbon bằng các đỉnh hoặc điểm gấp khúc.
  • 2 Liên kết giữa các carbon được thể hiện bằng các đường thẳng.
  • 3 Bỏ qua nguyên tử hydro vì chúng đã được ngầm hiểu.
10 tháng 12 2024

pH = 0,097 ⇒ [H+] = 0,8 (M)

⇒ nH+ = 0,8.0,2 = 0,16 (mol)

⇒ nH2SO4 = 0,08 (mol)

⇒ nH2SO4.3SO3 = 0,02 (mol)

⇒ mH2SO4.3SO3 = 0,02.338 = 6,76 (g)

14 tháng 8 2024

VD3.

\(\Delta m\) tăng do Na thế vào H, phân tử khối Na > H 

=> \(\Delta m_{tăng}=\left(M_{Na}-M_H\right).a=m_{hh}-m_{muối}\)

6 tháng 6 2024

kiểm tra đáp án thì có thể đăng tách ra ạ:")

15 tháng 5 2024

Gọi CTPT của alcohol là \(C_nH_{2n+2}O\left(n\ge1\right)\)

PTHH: \(2C_nH_{2n+2}O+2Na\rightarrow2C_nH_{2n+1}ONa+H_2\)

Ta có \(n_{H_2}=\dfrac{V_{H_2}}{24,79}=\dfrac{3,09875}{24,79}=0,125\left(mol\right)\)

\(\Rightarrow n_{alcohol}=0,25\left(mol\right)\)

\(\Rightarrow M_{alcohol}=\dfrac{m}{n}=\dfrac{15}{0,25}=60\left(g\right)\)

Mà \(M_{alcohol}=14n+18\)

\(\Rightarrow14n+18=60\) \(\Leftrightarrow n=3\)

Vậy CTPT của alcohol là \(C_3H_8O\)

9 tháng 5 2024

- Trích mẫu thử.

- Nhỏ vài giọt từng mẫu thử vào giấy quỳ tím.

+ Quỳ hóa đỏ: acetic acid.

+ Quỳ không đổi màu: ethyl alcohol, acetaldehyde. (1)

- Cho mẫu thử nhóm (1) pư với dd AgNO3/NH3

+ Có tủa sáng bạc: acetaldehyde.

PT: \(CH_3CHO+2AgNO_3+3NH_3+H_2O\underrightarrow{t^o}CH_3COONH_4+2NH_4NO_3+2Ag\)

+ Không hiện tượng: ethyl alcohol

- Dán nhãn.